Dấu Tích Nguồn Gốc Dân Tộc Trong Dân Gian

14 Tháng Tư 20147:59 CH(Xem: 15822)
TRẦN LAM GIANG
(Tài liệu của Thư Viện Việt Nam thuộc Trung Tâm Nghiên Cứu Văn Hóa Việt Nam – Nhân Ái Foundation, Little Saigon, California, Hoa Kỳ)

1.
Dù thực dân phương Bắc, với mưu đồ đồng hóa, đã nghìn năm ra sức xóa bỏ cội nguồn dân tộc Việt bằng cách đốt phá đền đài bi chú, đốt sách sử, tịch thu sách quý đem về nước họ. Đối phó với hành vi nham hiểm ấy, người dân Việt một mặt tồn trữ văn hóa vào văn chương truyền khẩu, một mặt luân lưu ngọc phả tiền nhân một cách kín đáo, can đảm, trường kỳ trong dân gian, sao chép chia nhau gìn vàng giữ ngọc. Giặc càng đốt phá miếu đình, người Việt càng tùy cơ xây dựng lại, nơi nguy nga, nơi nhỏ bé, nhưng nơi nào cũng được tôn kính, sùng bái, thành khẩn khói nhang để tựa lưng vào quá khứ, đi về với lịch sử. Do đó không vong bản.

Dưới đây, liệt kê một số miếu đình và hội lễ mang dấu tích lịch sử nguồn gốc, trải bao tang thương bể dâu, vẫn còn trong lòng cuộc sống Việt Nam.


DẤU TÍCH THẦN NÔNG

Đền Thờ Thần Nông:

Trên một ngọn đồi thuộc làng Sồng, xã Tân Hợp, huyện Tân Kỳ, tỉnh Nghệ An. Có hai ngôi đền lợp tranh, được người dân tu bổ, gìn giữ cẩn thận. Dân địa phương ấy gọi hai ngôi đền là Cồn Làng và Xần Cạp.

Hàng năm, cứ đến ngày 6 tháng Hai âm lịch, lễ tế Thần Nông được tổ chức dưới hai đền ấy rất trang nghiêm.

Lễ vật gồm một con lợn lềnh, hai chum rượu tấm, bốn gốc lúa tốt. Đặc biệt bốn gốc lúa nầy phải do hai trai tráng được làng cử đi lấy trộm ở làng khác đem về.

Trước tiên lễ ở đền Xần Cạp. Sau đem sang lễ ở đền Cồn Làng. Dân làng tụ tập đông đảo, trang nghiêm, tề chỉnh. Hương trưởng chủ tế, dâng hương cầu xin đức thánh tổ Thần Nông phù hộ cho người người an cư lạc nghiệp, nhà nhà sinh con đẻ cháu đông đúc, ngô lúa được mùa, gia súc sinh đôi. Sau đó, chia phần rượu thịt, ai về nhà nấy. Tối đến, đốt đuốc sáng trưng, tụ nhau ở đền Cồn Làng, rước hồn lúa (tức bốn gốc lúa) về nhà hương trưởng. Nghi thức rước hồn lúa trọng thể hòa với thái độ hân hoan. Hồn lúa được rước bằng kiệu, có chuông, trống, cồng chiêng. Giữa rừng đuốc, dân làng theo sau nhảy múa ca hát. Trong khi ấy, tại các nhà, ông già bà cả cũng sắp đặt lễ đón hồn lúa về nhà mình. Lễ gồm một ngọn đèn và một đĩa mười hai miếng trầu, mười hai miếng cau, mười hai miếng vỏ (vỏ cây chay để ăn đệm với trầu). Khi hồn lúa được rước về đến làng, các cụ khấn: “Chào dạ lúa đã về” hoặc “Chào mẹ lúa đã về” (dạ = mẹ). Rồi bưng đĩa trầu vào buồng trong, tin tưởng hồn lúa đã đến nhà mình.

Lễ Tế Thần Nông:


Đối với người dân Việt, nối đời tin tưởng Thần Nông là vua đầu tiên, đồng thời là thủy tổ của giống nòi. Thần Nông còn được gọi là Đế Viêm (vua phương Nam).

Xưa, tế Thần Nông do triều đình tổ chức vào ngày lập Xuân, gọi là Xuân Tế.

Dưới triều Nguyễn, hàng năm, sau tiết Đông Chí, Khâm Thiên Giám (quan xem thiên văn và lịch) sắp đặt lễ tế Thần Nông, cho nặn tượng vua Thần Nông và trâu cày, tùy theo hành kim, mộc, thủy, hỏa, thổ của mỗi năm mà nhuộm tượng với sắc, hoặc đỏ, hoặc vàng, hoặc xanh, hoặc trắng, hoặc đen. Trước tiết Lập Xuân hai ngày, một lễ đài tế được dựng theo hướng chính Đông, ngay trước cửa Đông của kinh thành. Đúng ngày Xuân Tế, rước tượng vua Thần Nông và trâu ra đài, nghi lễ được cử hành trang nghiêm trọng thể.

DẤU TÍCH LẠC LONG QUÂN VÀ ÂU CƠ

Thần Làng Bình Đà:
   
Đình nội ở giữa làng Bình Đà, huyện Thanh Oai, tỉnh Hà Đông, thờ Quốc Tổ Lạc Long Quân. Hội lễ tổ được tổ chức hàng năm vào ngày 6 tháng Ba âm lịch. Hội lễ long trọng, linh đình thu hút đông đảo khách hành hương từ thập phương đến dự. Dân làng Bình Đà có nghề làm pháo. Theo lệ làng, từ giờ tuất ngày mồng năm đốt pháo bông để mừng tổ về dự lễ. Chính lễ là ngày mồng sáu, đốt pháo dùng để chiêm lễ công lao uy đức của Tổ đối với giống nòi.

Đặc biệt lễ vật dâng Tổ, mỗi mâm đều chẳng một trăm đơn vị, tượng trưng cho một trăm con trai là Tổ của Bách Việt sau nầy.

Chùa làng (sau nầy, khi Phật giáo hưng thịnh, đã cho xây một ngôi chùa phía sau đình) dâng tổ những mâm đồ ăn chay, mỗi mâm một trăm đơn vị.

Dân làng dâng cổ thờ một trăm bánh trôi, gọi là bánh vía, vào ngày mồng sáu.

Ngoài bánh vía, còn một trăm tờ tiền mã, một tráp đựng một trăm trầu cau, một bát nước mưa, mười hai phẩm oản lớn.

Sau phần tế lễ tưởng nhớ công đức Tổ cùng cầu xin Tổ phù hộ cho người đông, vật thịnh, dân làng rước Tổ xem múa bông, múa cờ, đấu vật v.v… Pháo nổ không ngừng cho đến vãn lễ hội.

Thần Làng Ngọc Khám:

Làng Ngọc Khám, xã Gia Đông, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh có đền thờ Tổ Lạc Long Quân ở Đình chợ.

Theo ngọc phả của đền, Tổ Lạc Long Quân kết duyên cùng Tổ Bà Âu Cơ, sinh ra trăm trứng, nở trăm con trai, là Tổ của Bách Việt sau nầy.

Hội lễ được tổ chức vào ngày 8 tháng Tư âm lịch. Đó là một hội lễ lớn. Dân gian truyền tụng câu:

Mồng bảy hội Khám, mồng tám hội Dâu (*)
Mồng chín đi đâu cũng về hội Đóng

(CHÚ THÍCH: * Hội Dâu: Chùa Dâu tên chữ là Diên Ứng, ở làng Dâu, xã Thanh Khương, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh, thờ Phật Mẫu Man Nương. Lễ hội 17 tháng Giêng âm lịch, sinh nhật Phật Mẫu. Chính hội là ngày 8 tháng Tư âm lịch.)

Thần Làng Ngọc Xuyến
:

Làng Ngọc Xuyến thuộc xã Đại Bái, huyện Gia Lương, tỉnh Bắc Ninh. Đình làng thờ Lạc Long Quân, tục gọi là Thánh Cả.

Hàng năm, ngày 6 tháng Hai âm lịch, dân làng tổ chức hội lễ Thánh Cả Lạc Long Quân rất trọng thể với nghi lễ truyền thống. Đặc biệt còn diễn tích Rồng Lột để biểu tượng các công trình dựng nước khó khăn của đức Quốc Tổ. Tích được diễn với hơn bốn mươi thanh niên lực lưỡng, cởi trần, đóng khố đuôi lươn, xếp hàng một, người sau, hai tay vịn vai người trước. Dẫn đầu là một cụ già râu tóc trắng phơ, quần áo thụng trắng, chít khăn yến vĩ, tay cầm phèng la. Đoàn người đi nhấp nhô vòng vèo như rồng uốn khúc, hai tay khi vỗ vai người đi trước, khi vỗ bụng, vỗ đùi mình, âm thanh nhịp nhàng, dáng vóc uyển chuyển hùng vĩ.

Thần Làng Hữu Vĩnh:

Làng Hữu Vĩnh, xã Hồng Quảng, huyện Ứng Hòa, tỉnh Hà Đông, có ngôi đền lớn gọi là đền Hữu Vĩnh.

Theo ngọc phả đền, thần được thờ vị hiệu là Xung Lang, húy là Quang Xung, là một trong một trăm người con của Lạc Long Quân và Âu Cơ. Thần trấn giữ khúc sông ở đây và đã từng hiễn linh cứu nhiều thuyền bè khỏi tai nạn. Thời tiền Lý, thần đầu thai vào làm con một cô gái đồng trinh và đã có công giúp Lý Nam Đế đánh giặc.

Hội tế lễ thần được tổ chức Xuân, Thu mỗi năm. Xuân tế ba ngày 10, 11 và 12 tháng Giêng âm lịch. Thu Tế vào ngày 12 tháng Tám âm lịch.

Thần Làng La:

Làng La gồm hai thôn La Nội và Ỷ La, thuộc xã Dương Nội, huyện Hoài Đức, tỉnh Hà Đông. Có đền thờ Dương Cảnh Công. Theo thần phổ, ngài là một trong một trăm người con của Lạc Long Quân và Âu Cơ. Cuối đời Hùng, có một bà thợ nhuộm quê làng Đường Hào, tỉnh Hải Dương đến trú cư tại làng La, được thần đầu thai vào làm con. Thần giúp vua đánh giặc, lập nhiều công to, lại giúp dân làng diệt trừ ác thú nên dân làng thờ làm thần hoàng.

Hàng năm, làng La mở hội tế thần vào ngày 14, 15 và 16 tháng Giêng âm lịch, nghi lễ trọng thể, cổ bàn linh đình.

Ngoài nghi lễ, đêm mười sáu còn tổ chức rước kiệu thần trong đêm, đèn đuốc tắt hết trong vòng từ giờ tý đến giờ sửu, nhằm nói lên việc thần đi giết ác thú trong đêm. Dưới ánh trăng mười sáu, dân làng đình La còn diễn cảnh thần bắt hổ và bắt các ác thú khác.

DẤU TÍCH HÙNG VƯƠNG


Trước khi viết về dấu tích Hùng Vương trong dân gian, tưởng cũng nên liệt kê đế hiệu (danh hiệu vua) các vua Hùng.

Theo Hùng Triều Ngọc Phả (sách ghi chép các vua thuộc triều đại Hùng vương. Gọi là Ngọc Phả để bày tỏ lòng tôn kính và quý báu sách nầy như ngọc), còn giữ ở đền Hùng, tỉnh Phú Thọ thì mười tám vua Hùng có đế hiệu như sau:

1 – Hùng Dương vương
2 – Hùng Hiền vương
3 – Hùng Lân vương
4 – Hùng Việp vương
5 – Hùng Hy vương
6 – Hùng Huy vương
7 – Hùng Chiêu vương
8 – Hùng Vỹ vương
9 – Hùng Định vương
10 – Hùng Hy vương
11 – Hùng Trinh vương
12 – Hùng Võ vương
13 – Hùng Anh vương
14 – Hùng Anh vương
15 – Hùng Triều vương
16 – Hùng Tạo vương
17 – Hùng Nghị vương
18 – Hùng Duệ vương

Hùng vương thứ năm và Hùng vương thứ mười đều có đế hiệu là Hùng Hy vương, nhưng mặt chữ nho của hai chữ Hy viết khác nhau và mỗi chữ mang một ý nghĩa riêng.

Chữ Hy của đế hiệu Hùng vương thứ năm, viết theo chữ nho nghĩa là phúc, điều tốt lành.

Chũ Hy của đế hiệu Hùng vương đời thứ mười, viết theo chữ nho nghĩa là khí hòa ấm, sáng sủa.

Tang thương biến đổi gần năm ngàn năm, Ngọc Phả họ Hồng Bàng dẫu được người Việt trân quý giữ gìn, nhưng truyền nhau sao chép, hẳn nhiêu cũng có chút đỉnh sai khác. Do vậy, trong các bản Ngọc Phả còn lưu giữ ở đền Hùng, làng Cổ Tích, phủ Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ, có bản chép đế hiệu Hùng vương đời thứ mười là Hùng Uy vương, và Hùng vương đời thứ mười tám là Hùng Tuấn vương.

Một chi thuộc Bách Việt lập ra nước Sở, noi gương tộc trưởng Hồng Bàng, các vua Sở đều lấy chữ Hùng làm hiệu như: Hùng Dịch vương, Hùng Nghệ vương, Hùng Đán vương, Hùng Thắng vương, Hùng Dương vương, Hùng Cừ vương, Hùng Chấp vương, Hùng Duyên vương, Hùng Dõng vương.

Chữ Vương nơi đế hiệu Hùng vương không có nghĩa là vua nước chư hầu. Chữ Vương nguyên thủy nghĩa là chính sách nhân ái (Một nền chính trị xây dựng trên nền tảng yêu thương nhằm mục đích thể hiện một xã hội trong đó người dân có hạnh phúc đích thực). Từ nhà Chu bên Tàu, áp dụng chính sách phong kiến (Phong hầu kiến ấp, nghĩa là cất đất chia cho các vua chư hầu cai trị) mới dùng chữ Vương để chỉ vua chư hầu.

Đế hiệu Hùng vương của các vua dựng nước ta bao hàm ý nghĩa: mạnh mẽ, quả quyết xây dựng một xã hội trong đó mọi người dân an cư lạc nghiệp, người người yêu thương nhau, sống đời có hạnh phúc đích thực.

Đền Hùng Làng Cổ Tích:

Đền được xây trên núi Nghĩa Lĩnh, rừng Hy Cương, làng Cổ Tích, phủ Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ. Ở đây thờ mười tám vua Hùng, có Hồng Bàng Ngọc Phả, còn gọi là Hùng Triều Ngọc Phả.

Hàng năm, đến ngày mồng 10 tháng Quý Xuân (tháng Ba âm lịch), là ngày Quốc Lễ (ngày lễ lớn của đất nước), dân gian gọi là ngày Quốc Tổ Hùng Vương, được tổ chức trọng thể, người Việt các tỉnh về dự lễ rất đông, xếp đoàn dài hàng chục cây số. Tế Tổ được gọi là Quốc Tế (lễ cúng bái của cả nước), xưa triều đình cử quan đứng đầu bộ Lễ (Lễ Bộ Thượng Thư) về đọc văn tế, dâng hương rót rượu, gọi là chủ tế. Đến cuối triều Nguyễn, đất nước loạn ly, đại diện triều đình là vị Tỉnh Hiến Phú Thọ (tỉnh trưởng Phú Thọ) làm chủ tế. Tất cả các quan chức địa phương tề tựu đông đủ để dâng hương cùng lễ vật.

Đền Hùng ở núi Nghĩa Lĩnh có ba ngôi đền: Đền Thượng, Đền Trung và Đền Hạ. Đền Thượng ở trên đỉnh núi, Đền Trung ở lưng chừng núi và Đền Hạ ở chân núi.

Đền Thượng thờ mười tám đức Hùng vương với mười tám bài vị. Trước cửa đền có tấm hoành phi (bảng hình chữ nhật, treo ngang) với bốn chữ Việt Nam Triều Tổ (tên nước ta là Việt Nam không phải mới bắt đầu từ Gia Long nhà Nguyễn. Theo Nguyễn Trãi trong Dư Địa Chí, Kinh Dương vương được phong là Việt Nam vương). Đền nầy được trùng tu năm 1914. Nhân dịp xây cất sửa chữa lại nầy, một cuộc lễ Tố được tổ chức rất lớn, một phần để tỏ lòng chiêm bái tôn kính, một phần để quốc dân chứng kiến, tổ đền dù được sửa chữa nhưng vẫn giữ nguyên hình thức cũ.

Chính giữa bàn thờ với mười tám bài vị mười tám đức Quốc Tổ có mười bốn chữ: “ĐỘT NGỘT CAO SƠN CỔ VIỆT HÙNG THỊ THẬP BÁT THÁNH VƯƠNG VỊ” (bài vị thờ mười tám vua thành họ Hùng xưa của dân tộc Việt, trên đỉnh núi cao chót vót).

Trên đỉnh Ngũ Lĩnh, gần bên Đền Thượng có một ngôi cổ mộ, không biết là mộ vua Hùng vương thứ mấy. Vua Tự Đức nhà Nguyễn, với lòng thành khẩn hướng về gốc nguồn đã sắc chỉ (vua ra lệnh) xây lăng tẩm, đích thân vua Tự Đức kính đề năm chữ “Sắc Kính Hùng Vương Lăng” (sắc xây lăng Hùng vương).

Tương truyền Đền Thượng được vua Hùng vương thứ sáu sắc lệnh dựng nên.

Đền Trung thờ các vua Hùng. Trước đền có một tấm bia lớn ghi tên cùng công đức mười tám vua Hùng, do các hậu vương dựng. Bên cạnh bia nầy có nhiều bia phụ ghi tên các vị đã góp công góp của trùng tu đền thờ Tổ.

Đền Hạ thờ hai công chúa Tiên Dung và Ngọc Dung, con vua Hùng Duệ vương (Hùng vương thứ mười tám). Trước đền có giếng nước bốn mùa trong mát, đời đời không cạn, nên dân gian còn gọi là Đền Giếng. Cạnh Đền Giếng là chùa Thiền Quang, tương truyền được xây từ đời Hùng.

Hội đền Hùng mở từ ngày mồng một tháng Ba, đến đêm mồng 10 tháng Ba thì rã đám.

Tế vật trong ngày giỗ Tổ, ngoài hương hoa, các thức quả, còn có tam sinh (ba loài gia súc), gồm một con lợn cạo lông, chưa nấu nướng, bỏ lòng, mỡ chài phủ kín toàn thân. Một con bò thui, một con dê thui, bỏ lòng, để nguyên cả con. Dâng làng Cổ Tích dâng xôi gấc, bánh dày, bánh chưng.

Ngoài tế lễ, trong mười ngày hội đền Hùng, các cuộc vui truyền thống được tổ chức để dân gian không quên nếp sống xưa.

Hội Làng Hy Cương:

Làng Hy Cương thuộc tổng Xuân Lũng, phủ Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ (xưa là Châu Phong). Hy Cương do ba làng cổ hợp thành: Kẻ Cổ (Cổ Tích), Kẻ Trẹo (làng Triệu Phú) và Kẻ Vi (làng Vi Cương).

Hàng năm, ngoài giỗ tổ được tổ chức tại đền Hùng, dân Hy Cương còn tổ chức hội lễ riêng từ 30 tháng Chạp đến mồng 8 tháng Giêng. Đó là hội lễ “Rước Chúa Trai, Chúa Gái”, diễn lại sự tích Tản Viên sơn thần rước Ngọc Hoa công chúa về núi Tản. Cuộc giao chiến giữa Sơn Tinh và Thủy Tinh cũng được diễn lại mỗi năm trong hội lễ nầy.

Hội Làng Phù Ninh:

Làng Phù Ninh là một làng Việt cổ, đến nay vẫn giữ tên Phù Ninh, huyện Phong Châu, tỉnh Phú Thọ.

Hàng năm, cứ đến ngày 12 tháng Hai âm lịch bắt đầu mở hội, tế tổ Hùng vương tại miếu Lạn. Lễ vật gồm rượu, xôi gà. Gà phải giết tại miếu, làm lòng, để cả con, không nấu nướng. Riêng ruột gà luộc chín quấn với củ kiệu. Tương truyền khi vua Hùng đi săn đến núi Lạn (phía nam Nghĩa Lĩnh), ngừng lại dùng cơm, có Mỵ Nương (công chúa con vua Hùng) tên Kiệu tìm được thứ củ, đem nướng với lòng gà, nhà vua ăn khen ngon và đặt tên là củ kiệu.

Hội lễ Phù Ninh rã đám vào đêm 12 tháng Hai.

Đền Thờ Làng Sốm:

Làng Sốm, tên chữ là Cổ Lãm, thuộc huyện Thanh Oai, tỉnh Hà Đông.

Đền làng Sốm thờ các vị thành hoàng, có công dựng làng từ thời Hùng vương, các tướng của Hai Bà Trưng, các tướng thời tiền Lý.

Hàng năm, từ mồng 7 đến 12 tháng Giêng âm lịch, dân làng Sốm tổ chức hội lễ tế Tổ Hùng vương. Lễ tế linh đình, cỗ bàn thịnh soạn như ngày tết nguyên đán. Trong hội lễ nầy, lệ làng phải có một cỗ pháo đại bảy tầng. Pháo được đốt vào ngày 11 tháng Giêng.

Hôị Lễ Làng Đồng Luận:

Làng Đồng Luận, xã Tam Thanh, tỉnh Phú Thọ, là một làng Việt cổ.

Hàng năm, đúng ngày giỗ tổ mùng 10 tháng Ba âm lịch, dân làng Đồng Luận có tục nấu cơm không chín (cơm sống) để cúng tổ.

Tương truyền, có một lần vua Hùng dẫn quân qua Đồng Luận, nghỉ chân ăn cơm. Cơm đang sôi, nghe tin giặc đến. Nhà vua cùng quân, tướng ăn vội cơm sống để kịp đi dẹp giặc, vậy nên dân Đồng Luận đời đời, đến ngày giỗ Tổ, giữ tục nấu cơm sống để tưởng nhớ gốc nguồn.

Đền Làng Vân Sa:

Làng Vân Sa, huyện Tân Hồng, tỉnh Sơn Tây có đền thờ công chúa Thiếu Hoa, con vua Hùng vương thứ chín (Hùng Định vương) làm thành hoàng. Dân gian truyền tụng rằng công chúa đã dạy dân làng làm nghề tơ lụa The và lụa Vân Sa, nổi tiếng đẹp và bền, rất được ưa chuộng.

Hàng năm, hội lễ được tổ chức vào hai ngày mồng 6, mồng 7 tháng Giêng. Năm nào cũng diễn tích dân làng đem tơ lụa đi dâng lên vua Hùng. Một đám rước lụa với những điệu hát múa truyền thống được diễn trước đền làng để làm đẹp lòng công chúa. Các hình thức trẩy dâu, nuôi tằm, kéo kén, quay tơ, dệt lụa cũng được diễn ra ở đây mỗi năm.

Hội Lễ Làng Vũ Lao:

Làng Vũ Lao là một làng Việt cổ, thuộc huyện Thanh Hòa, tỉnh Vĩnh Yên.

Hàng năm, ngày 10 tháng Giêng có hội lễ ở Đền E (E có nghĩa là e lệ, e thẹn).

Đền E ở xóm Lũng, làng Vũ Lao. Tương truyền rằng khi các vua Hùng còn đóng đô ở núi Thắm, các Mỵ Nương sống ở xóm Lũng. Hàng năm, cứ đến mồng 10 tháng Giêng, vua Hùng tuyển phò mã (con rể vua) ở đây.

Trong hội lễ, dân làng dâng lễ vật gồm bánh dày, bánh chưng, bánh ướt (gạo nếp nấu trong lá dong, hình tháp), và bánh năng (gạo nếp ngâm bảy ngày trong nước vôi, cùng với măng tre và vỏ quả sở, sau khi vớt lên, để khô, gói là dong, nén chặt, luộc kỹ. Khi chín bóc ra màu vàng tươi, óng ả như châu ngọc). Dân gian truyền tụng rằng các Mỵ Nương dạy dân làm các loại bánh nầy.

Mồng Năm Tháng Năm, Hội Chùa Thắm:


Làng Vũ Lao còn gọi là làng Thắm. Chùa Làng gọi là Chùa Thắm. Ở hậu cung thờ Phật Thích Ca. Giữa sân chùa có một phiến đá phẳng lớn bằng chiếc chiếu. Giữa phiến đá có một dấu chân người, lớn bằng bốn chân người thường. Tương truyền đó là dấu chân vua Hùng để lại núi Thắm trước khi dời đô về Nghĩa Lĩnh.

Lễ hội Đình Cả, mồng 10 và 11 tháng Một (tháng thứ 11 trong năm) âm lịch. Tương truyền hàng năm, sau khi dời đô về Nghĩa Lĩnh, cứ đến ngày, Hùng vương trở về thăm lại đất xưa, mở hội ăn mùng với dân làng. Lễ hội Đình cả tổ chức mỗi năm rất trọng thể, có rước kiệu với những vũ điệu cổ truyền.

Đền Làng Hùng Lô:

Làng Hùng Lô, huyện Châu Phong, tỉnh Phú Thọ, có đền thờ vua Hùng thứ mười tám, tức Hùng Duệ vương.

Hàng năm, hội làng được mở vào ba ngày 9, 10 và 11 tháng Ba âm lịch để làm giỗ Tổ. Ngoài nghi lễ truyền thống, dân làng Hùng Lô còn tổ chức rước kiệu từ đình làng đến đền thờ Quốc Tổ trên đỉnh Nghĩa Lĩnh. Cuộc rước kiệu nầy rất trọng thể, làng tuyển ba trăm đàn ông từ hai mươi lăm đến năm mươi tuổi sung vào đội rước kiệu. Y phục toàn màu trắng, thắc lưng màu xanh hoa lý, chân quấn xà cạp. Mở đường rước kiệu là mười hai vị tướng quân. Mỗi vị tướng quân có năm người phục dịch.

Đền Làng Bế Sơn:

Làng Bế Sơn, phủ Vĩnh Tường, tương truyền xưa con gái vua Hùng là Mỵ Nương bị chúa vua Thục là Thục Phán giết ở đấy. Dân làng lập đền thờ vua Hùng, Hoàng Hậu và Công Chúa, Xuân Thu nhang khói lễ vật.

Đền Làng Bạch Hạc:

Làng Bạch Hạc còn có tên là Kê Hạc, thuộc tỉnh Việt Trì có đền thờ Thổ Lệnh Đại vương, dân gian quen gọi là Thánh Hạc. Theo thần phổ (sách ghi sự tích thần thờ trong đền), Thánh Hạc là anh em sinh đôi với Thạch Khanh. Cả hai anh em có công giúp vua Hùng đánh Thục Phán. Thánh Hạc có tài chạy nhanh như gió cuốn, lặn sâu như thuồng luồng. Khi ngài chết được phong thần.

Em ngài là Thạch Khanh được thờ làm thành hoàng Tiên Cát (đối diện với Bạch Hạc bên kia sông)

Hàng năm, dân chúng tổ chức hội tế thần vào ngày mồng 5 tháng Giêng để kỷ niệm tài chạy của ngài. Từ 10 đến 13 tháng Ba, kỷ niệm tài bơi lặn của ngài. Mồng 20 tháng Năm âm lịch, tổ chức bơi trải, diễn lại sự tích ngài tiễn đức thánh Tản Viên trở lại Ba Vì, sau khi đến thăm ngài Thổ Lệnh Đại Vương.

Đền Làng Bạch Trữ:

Làng Bạch Trữ còn gọi là Kê Trữ, thuộc huyện Mê Linh, tỉnh Phú Thọ.

Đền làng thờ Mỵ Nương vợ Sơn Tinh.

Ngoài ra, làng Bạch Trữ còn có đền thờ Cống Sơn, theo thần phổ, là một danh tướng của Hai Bà Trưng.

Đền Làng Bàn Giản:


Làng Bàn Giản gồm ba làng Việt cổ xưa là Đông Lai, Ngọc Xuân và Thạch Trụ, thuộc tỉnh Phú Thọ. Hàng năm, dân làng tổ chức hội lễ từ mồng 4 đến mồng 7 tháng Giêng âm lịch để tế lễ Đức Ông làng, người là danh tướng của vua Hùng thứ mười tám.

Đền Làng Chu Hóa:

Làng Chu Hóa thuộc huyện Châu Phong, một làng Việt cổ, tên nôm là Kẻ Khống, còn gọi là Chu Khống. Đền làng thờ ba vị thành hoàng là Cả Đông, Nhị Đông và Tam Đông, gọi chung là Đông Hải Đại vương. Theo thần phổ, ba anh em ngài là rắn Thác, sinh vào làm con một quả phụ, cùng sinh một ngày và cùng trở thành danh tướng của vua Hùng thứ mười tám.

Hàng năm, cứ đến ngày mồng 5 tháng Ba âm lịch, dân làng Kẻ Khống tổ chức hội lễ Thành Hoàng Đông Hải Đại vương rất trọng thể.

Đền Dạ Trạch:

Đền nằm trong vùng Dạ Trạch xưa, nay là thôn Yên Vĩnh, làng Dạ Trạch, huyện Châu Giang, tỉnh Hưng Yên.

Đền Dạ Trạch thờ công chúa Tiên Dung và Chử Đồng Tử.

Hàng năm, từ mồng 10 đến 13 tháng Hai âm lịch, dân chúng mở hội lễ, ngoài tế lễ truyền thống, còn diễn lại sự tích Tiên Dung - Chử Đồng Tử.

Đền Làng Đa Hòa:

Làng Đa Hòa, thuộc huyện Châu Giang, tỉnh Hưng Yên có đền thờ Chử Đồng Tử và hai vợ là Tiên Dung công chúa và Hồng Vân tiên nữ (vợ hai). Hàng năm, từ mồng 10 đến 12 tháng Hai âm lịch, hội lễ được tổ chức trọng thể theo nghi lễ truyền thống.

Hội Làng Đào Xá:

Làng Đào Xá thuộc huyện Tam Thanh, tỉnh Phú Thọ, nằm trên bờ tây sông Đà.

Tương truyền xưa Sơn Tinh và Thủy Tinh giao tranh ở đây. Thần phổ làng Đào Xá chép rằng: Khi Thủy Tinh dâng nước ngập đồng điền, vua Hùng sai đại tướng Hùng Hải đi dẹp nạn. Một hôm, đại tướng Hùng Hải cùng vợ là Trang phu nhân dông thuyền rồng từ Đào Xá về Thọ Xuyên. Trong thuyền Trang phu nhân nằm mộng thấy sinh được ba quý tử. Quả nhiên sau phu nhân sinh được ba con trai trong một lần lâm bồn, đặt tên là Đại Linh Long, Mãn Linh Long và Uyên Linh Long. Khi ba người con trưởng thành, vua Hùng sai Hùng Hải làm quan đầu tỉnh Hưng Hóa, Uyên Linh Long trấn giữ đất Thọ Xuyên và Dị Nậu. Đại Linh Long và Mãn Linh Long ở lại Đào Xá.

Dân làng Đào Xá gọi Hùng Hải là Thánh Phụ (thánh cha), Trang phu nhân là Thánh Mẫu (thánh mẹ), ba con trai là ba vị đại vương. Lập đền thờ rất trang trọng, trong đền còn thờ thêm nàng Quế Hoa, người hầu gái của Trang phu nhân, đã có công săn sóc ba vị đại vương khi còn tấm bé.

Hàng năm, mồng ba tết, dân làng tổ chức hội lễ múa Trâu, 27 tháng Giêng âm lịch tổ chức lễ cầu an, 28 tháng Giêng lễ múa Voi, 29 tháng Giêng nấu cơm thi, mồng 9 tháng Bảy âm lịch, lễ cầu thần an dân.

Tất cả các lễ trên nhằm tỏ lòng biết ơn thần đã giúp dân trị thủy, yên vui cày cấy.

Đền Làng Ngãi:

Làng Ngãi tức làng Tự Nhiên, tổng Chương Dương, huyện Thường Tín, tỉnh Hà Đông. Đền làng thờ Chử Đồng Tử, Tiên Dung công chúa, Hồng Vân tiên nữ (dân làng quen gọi là cô thợ cấy Hồng Vân). Hàng năm, hội lễ được tổ chức vào ngày mồng 1 tháng Tư âm lịch.

Đền Làng Lỗ Khê:

Làng Lỗ Khê, tên tục là Kẻ Lỗ Khê, thuộc xã Liên Hà, huyện Đông Anh, Hà Nội. Đền làng thờ Ông Dực và Ông Minh. Theo thần phổ, đồng thời cũng theo lời truyền tụng, hai ông đã có công giúp vua Hùng dẹp giặc Mũi Đỏ. Hàng năm, dân làng mở hội Tế Xuân và Tế Thu để tưởng nhớ công đức hai ông.

Hội Tế Xuân từ mồng 6 đến 15 tháng Giêng âm lịch.

Hội Tế Thu, còn gọi là hội bán trà, từ mồng 8 đến mồng 10 tháng Tám âm lịch.

DẤU TÍCH THÁNH DÓNG


Thánh Dóng là danh tướng đời Hùng vương thứ sáu, có công dẹp giặc Ân (Thương) đến từ phương bắc. Những dấu tích về Thánh Dóng quan hệ mật thiết đến dấu tích Tổ Hùng vương.

Đền Làng Bộ Đầu:

Làng Bộ Đầu là một làng Việt cổ, thuộc phủ Thường Tín, tỉnh Hà Đông.

Đền làng thờ Thánh Dóng và mẹ ngài. Theo thần phổ của đền, khi Thánh Dóng đang trên đường bay lên trời, bỗng nghe dân chúng gào thét vang dậy bên sông. Nhìn xuống thấy dân đang gắng sức cứu một người đàn bà bị hai thuồng luồng kéo xuống nước. Bà ấy chính là mẫu thân của Thánh. Thánh bèn lao xuống giết hai con thuồng luồng, cứu được mẹ.

Hàng năm, cứ đến 18 tháng Giêng âm lịch, dân làng Bộ Đầu, tổ chức lễ tế theo nghi thức truyền thống. Ngoài ra còn tổ chức tranh giải đánh côn.

Đền Làng Chi Nam:

Làng Chi Nam, thuộc tổng Chi Lệ, huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội.

Đền làng thờ một bộ tướng của Thánh Dóng. Theo thần phổ, ngài là Trâu Đô Thống. Khi đánh giặc Ân, ngài đã dùng thuyền sắt theo đường thủy từ Chi Nam tiến lên, dùng chùy sắt đánh nát quân ngoại xâm. Sau khi giặc tan, ngài về thủy cung, để quả chùy lại giữa dòng sông Đuống, quả chùy sau biến thành hai bãi cát lớn ở khúc gần sông Lạc Đầu.

Hội lễ Trâu Đô Thống được tổ chức trước ngày hội Thánh Dóng một ngày, tức ngày mồng 5 tháng Tư âm lịch.

Đền Làng Dóng:

Làng Dóng là một làng Việt cổ, nay gồm bốn làng Đổng Viên, Đổng Xuyên, Phù Đổng và Phù Dực, thuộc huyện Gia Lâm, Hà Nội.

Đền làng thờ Thánh Dóng.

Hội lễ được mở từ mồng 6 đến 12 tháng Tư âm lịch. Hội lễ Dóng là hội lễ quan trọng nhất ở vùng Kinh Bắc.

Đền Làng Mát:

Kẻ Mát là tên nôm của làng Thanh Nhàn, huyện Mê Linh, tỉnh Phú Thọ.

Theo thần phổ đền làng Mát, trên đường đến Sóc Sơn, trời oi ả, Thánh Dóng dừng lại một nơi để uống nước. Vì không biết đó là nơi nào, ngài hỏi lũ mục đồng, chúng bảo đây là Kẻ Khốn. Thánh cười mà rằng: Nơi đây mát mẽ thế nầy, sao gọi là Kẻ Khốn? Từ đó, dân làng đổi tên Kẻ Khốn thành Kẻ Mát. Để nhớ sự tích Thánh đã dẹp xong giặc Ân, ngài ngồi nghỉ mát uống nước nên Kẻ Mát còn gọi là làng Thanh Nhàn.

Hàng năm, dân làng mở hội lễ vào ngày mồng 6 và mồng 7 tháng Giêng âm lịch.

Đền Làng Đồng Kỵ:

Làng Đồng Kỵ thuộc tổng Đồng Quan, huyện Tuyên Sơn, tỉnh Bắc Ninh.

Đền làng Đồng Kỵ thờ Thiên Cương Đế.

Theo thần phổ, Thiên Cương là bộ tướng của đức Thánh Dóng, góp nhiều công lớn trong việc dẹp giặc Ân. Khi giặc tan, Thiên Cương theo Thánh Dóng lên trời, được vua Hùng thứ sáu phong làm Thiên Cương Đế, thượng đẳng thần.

Hội lễ được dân làng Đồng Kỵ tổ chức vào mồng 4 và mồng 5 tháng Giêng âm lịch. Hai ngày ấy, pháo đốt vang trời mừng Thiên Cương Đế thắng trận.

Hội Đền Sóc Sơn:

Sóc Sơn tức núi Vệ Linh, trên núi có đền thờ Phù Đổng Thiên vương, tức Thánh Dóng.

Theo thần phổ, sau khi dẹp tan giặc Ân bên Tàu, Thánh Dóng phi ngựa sắt lên núi Sóc Sơn, cởi bỏ áo giáp lại trên núi, người và ngựa sắt cùng bay lên trời, nhằm ngày 7 tháng Giêng âm lịch.

Hàng năm, hội lễ được tổ chức trọng thể theo nghi thức quốc tế (lễ tế trọng đại của nước) trong những ngày mồng 6, 7 và 8 tháng Giêng âm lịch.

DẤU TÍCH THÁNH TẢN VIÊN

Thánh Tản Viên tức Sơn Tinh, con rể của vua Hùng. Do đó, dấu tích Thánh liên hệ mật thiết đến gốc nguồn dân tộc.

Đền Chung Của Hai Làng Cẩm Đới Và Tòng Lệnh:

Làng Cẩm Đới tục gọi là Kẻ Đới, thuộc huyện Cẩm Lĩnh, huyện Ba Vì, tỉnh Sơn Tây.

Làng Tòng Lệnh thuộc tổng Tòng Bạc, huyện Ba Vì, tỉnh Sơn Tây.

Hai làng chung nhau, một đền thờ thánh Tản Viên. Hàng năm, cứ đến ngày 12 tháng Hai âm lịch, dân hai làng hợp nhau mở hội lễ tế Thánh rất trọng thể.

Theo thần phổ của đền, xưa Thánh đã cùng dân hai làng đánh cá vào ngày 12 tháng Hai, lại dạy dân hai làng ăn gỏi cá. Vậy nên trong ngày mở hội để tưởng nhớ Thánh, ngoài nghi lễ truyền thống, dân hai làng còn tổ chức đánh cá, làm gỏi dâng lễ rồi cùng nhau ăn uống. Đặc biệt gỏi cá dâng Thánh phải có cá lăng, cá quất là hai thứ cá xưa Thánh ưa dùng.

Hội Lễ Làng Phú Lộc:

Làng Phú Lộc thuộc huyện Phong Châu, tỉnh Phú Thọ.

Theo lệ làng, hàng năm cứ đến đêm mồng 6 tháng Giêng âm lịch, dân làng đủ cả nam phụ lão ấu (đàn ông, đàn bà, ông già bà cả và trẻ thơ) đèn đuốc sáng trưng, cùng nhau đến rừng Trám dâng lễ đức thánh Tản Viên, gọi là hội lễ Mở Cửa Rừng.

Lễ vật đặc biệt có cung tên dâng lên bàn thờ Thánh. Sau lễ nghi truyền thống, dân làng cử một chàng trai dùng cung hoặc nỏ bắn chết đôi gà trống mái buộc ở cửa đền, coi như rừng đã được mở cửa. Họp nhau ăn uống đến sáng và rủ nhau vào rừng mở cuộc săn đầu năm.

Đền Làng Dị Nậu:

Làng Dị Nậu, tục gọi Kẻ Núc, thuộc huyện Tam Thanh, tỉnh Phú Thọ.

Làng thờ thánh Tản Viên làm thành hoàng.

Theo thần phổ, đức thánh Tản Viên đã dạy dân làng côn quyền võ nghệ, lại dạy dân, cày bừa gặt hái. Vợ ngài, con gái vua Hùng dạy dân gieo mạ, cấy lúa cùng trồng dâu nuôi tằm dệt vải.

Hàng năm, hội lễ của làng được mở từ mồng 4 đến mồng 6 tháng Giêng âm lịch.

Ngoài lễ nghi truyền thống, dân làng chia phe múa côn và đấu tượng trưng. Lại diễn cảnh cấy cày, nuôi tằm, quay tơ, trẩy dâu cùng những điệu dân ca có tính cách khuyến nông, đằm thắm thiết tha tình con cháu uống nước nhớ nguồn.

Đền Làng Lạp:

Làng Lạp là một làng lớn, xưa gồm hai làng Liệp Tuyết và Tuyết Nghĩa, thuộc phủ Quốc Oai, tỉnh Sơn Tây, có đền thờ thánh Tản Viên.

Theo thần phổ, xưa có lần Thánh du ngoạn qua làng Lạp, thấy phong cảnh hữu tình, nhân phong khả ái bèn dựng cho làng một ngôi đền. Thánh lại họp dân làng ở đền ấy để dạy nông tang (trồng lúa, nuôi tằm, dệt vải) và ca hát.

Do đó, hàng năm sau tết Nguyên Đán, dân làng họp nhau ở Đền Lạp, dâng lễ vật để nhớ công ơn Thánh và ca hát đón xuân.

Đặc biệt ba mươi sáu năm một lần, dân làng Lạp lại tổ chức hội hát Dô một lần. Theo tục truyền, trong vòng ảnh hưởng của Thánh có tất cả ba mươi sáu ngôi đền thờ, mỗi năm chỉ hát hầu Thánh ở một đền nên có chu kỳ ba mươi sáu năm.

Hát Dô là gọi tắt điệu hát Dô Huầy (hay huầy dô ta cũng vậy). Đó là điệu hát chèo đò và tải củi.

Hội hát Dô được mở từ mồng 10 đến 15 tháng Giêng âm lịch. Ba ngày 13, 14 và 15 tổ chức những cuộc vui mang tính chất sinh hoạt truyền thống như kéo co, đánh côn, đánh thó (côn tre ngắn bằng cẳng tay), đánh vật, đánh cờ v.v…

Bài bản hát Dô, lời văn cổ kính, nội dung gồm những lời chúc tụng; phong cảnh bốn mùa; hái hoa dệt lụa, kéo gỗ chèo thuyền đánh cá. Khi vãn, hát lời chúc tụng giã từ.

Đền Măng Sơn:
       
Các làng thuộc tổng Tường Phiên, phủ Sơn Đông, tỉnh Sơn Tây chung nhau ngôi đền Măng Sơn, thờ thánh Tản Viên cùng hai vị tướng của ngài là Cao Sơn và Quý Minh.

Thần phổ ghi sự tích Sơn Tinh, Thủy Tinh như cổ tích được lưu truyền trong dân gian.

Hàng năm, hội lễ được mở từ mồng 6 đến 12 tháng Giêng âm lịch. Nghi thức hội lễ trang nghiêm, chiêng trống rước Thánh và hai tướng vang lừng một vùng đồi núi. Trong đền trầm hương nghi ngút. Lễ vật, đủ cả tam sinh ngũ quả. Đặc biệt phải có quả quít, trái cây thổ sản mà hầu hết các nhà đều trồng.

Đền Làng Me:


Làng Me là tên nôm của làng Cung Thuận, tổng Tích Giang, huyện Phúc Thọ, tỉnh Sơn Tây. Đền làng thờ đức thánh Tản Viên. Hàng năm, lễ hội mở từ mồng 2 đến mồng 10 tháng Hai âm lịch.

Theo thần phổ, thánh Tản Viên dạy dân làng Me đào ao nuôi cá. Do đó, trước đền thờ Thánh có một cái ao lớn hình chữ môn, nuôi các loại cá trắm, cá chép, cà mè, cá trôi dùng làm lễ vật tế Thánh trong ngày hội lễ. Cá ao được dân làng canh giữ cẩn thận, cấm bắt đem về nhà ăn.

Đến ngày hội, các nhà sửa soạn sẵn nơm, dậm chờ ở bờ ao. Dứt hồi trống ngũ liên, tất cả nhảy xuống ao bắt cá. Bắt được bao nhiêu, gom chung tại miếu, làm gỏi, nấu nướng dâng Thánh, rồi cùng nhau ăn uống. Số cá còn lại, chia đều cho các nhà.

Ngoài ra, hội làng Me, cũng tổ chức những trò vui như: đánh côn, đánh vật, đánh đáo, hát đúm, hát chèo.

DẤU TÍCH THỤC AN DƯƠNG VƯƠNG

Thục An Dương vương đánh bại vua Hùng thứ mười tám, đổi quốc hiệu (tên nước) Văn Lang thành Âu Lạc.

Những dấu tích lịch sử về Thục An Dương vương trong dân gian bổ túc cho giá trị thực hữu Hùng vương vốn đã hiển nhiên, minh bạch trong lòng tuyệt đại đa số người Việt tự muôn đời.

Thành Cổ Loa:
       
Thành Cổ Loa hình trôn ốc, do Thục An Dương vương cho xây ở Phong Khê, thuộc huyện Đông Anh, tỉnh Phúc Yên, cách Hà Nội khoảng mười sáu cây số gần quốc lộ số Ba. Thành ngoài, chu vi tám cây số. Từ Đông sang Tây thành, 2,800 công xích. Từ Bắc sang Nam thành 2,000 công xích (thước tây). Lớp thành trong, chu vi 6,500 công xích. Lớp thành thứ ba (lớp trong cùng) chu vi 1,600 công xích.

Đền Cổ Loa:

Dân cư vùng thành Cổ Loa họp thành một làng gọi là làng Cổ Loa, thờ Thục An Dương vương làm thành hoàng, dựng đền thờ gọi là đền Cổ Loa. Bên đền là miếu thờ công chúa Mỵ Nương, con gái An Dương vương. Thần phổ chép không khác chuyện cổ tích về vua An Dương vương, Thần Kim Quy, Trọng Thủy - Mỵ Châu được lưu truyền quen thuộc trong dân gian.

Hàng năm, cứ đến ngày mồng 6 tháng Giêng âm lịch, dân chúng Cổ Loa mở hội kỷ  niệm ngày An Dương vương lên ngôi vua.

Ngoài lễ nghi truyền thống, hội lễ có khi kéo dài đến năm, sáu ngày với những cuộc vui rước nỏ thần, thi bắn nỏ, múa côn, đánh vật, đánh đu tiên, đánh đáo,  đánh cờ v.v…

Đền Làng Đại Than:

Làng Đại Than, tổng Cao Đức, huyện Gia Lương, tỉnh Bắc Ninh có đền thờ Cao Lỗ.

Cao Lỗ là danh tướng của An Dương vương, người đã sáng chế ra nỏ máy, truyền thuyết gọi là nỏ thần, mỗi lần bắn ra được cả trăm mũi tên.

Hàng năm, từ ngày 10 tháng Ba đến ngày 5 tháng Tư âm lịch, làng Đại Than mở hội tế Thần Cao Lỗ. Các làng Tiểu Than, Bình Than, Văn Than, Phù Than cùng với Đại Than tổ chức cuộc rước thần rất trọng thể vì các làng ấy đều thờ Cao Lỗ làm thành hoàng.

Ngoài tế lễ theo nghi thức truyền thống, còn có các cuộc vui, đặc biệt là bắn cung và đua thuyền trên sông Lục Đầu, khúc sông Đuống đổ vào.

Đền Làng Hội Khê:

Làng Hội Khê tên nôm là làng Cọi, thuộc tổng Vũ Hội, huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình. Dân làng thờ công chúa Mỵ Nương, con gái Thục An Dương vương làm thành hoàng. Đền thờ công chúa Mỵ Nương còn được gọi là đền thờ Bà.

Theo thần phổ, công chúa Mỵ Nương có công dạy dân làng se tơ, kén kéo, dệt lụa. Đức hạnh công chúa làm cho ma quỷ kinh sợ, không dám quấy phá dân lành.

Hàng năm, cứ đến ngày mồng 3 tết Nguyên Đán, hội lễ rước kiệu công chúa từ đền thờ về đình làng được tổ chức trọng thể.

Đền Làng Đông Cao Và Làng Độc Bộ:

Đông Cao và Độc Bộ là hai làng thuộc tổng Yên Lộc, huyện Ý Yên, tỉnh Bắc Ninh. Dân hai làng cùng thờ An Dương vương và công chúa Mỵ Nương.

Đền thờ An Dương vương gọi nôm là Đền Cha ở làng Độc Bộ.

Đền thờ Mỵ Nương gọi nôm là Đền Con, ở làng Đông Cao.

Hàng năm, cứ đến ngày 18 tháng Tám âm lịch, dân hai làng tổ chức giỗ Mỵ Nương.

Từ sáng sớm, toàn thể quan viên và dân làng Đông Cao rước kiệu công chúa từ Đền Con sang Đền Cha để tạ tội vì tình mà làm mất nước. Quan viên cùng dân làng Độc Bộ tụ tập chở kiệu từ Đền Con đến, rước vào đình tế lễ để Mỵ Châu tạ tội cùng vua cha. Sau phần tế lễ, hai làng họp nhau ăn uống. Chiều tối lại rước kiệu công chúa về Đền Con ở Đông Cao.

Đền Làng Thụy Lôi:

Làng Thụy Lôi là một làng Việt cổ, tục gọi là làng Nhội, hay Kẻ Nhội, thuộc tổng Thụy Lâm, huyện Đông Anh, tỉnh Phúc Yên, cách Hà Nội mười sáu cây số.

Làng Thụy Lôi có đền thờ thần Kim Quy, vì Thần đã giúp An Dương Vương diệt ma quỷ, xây thành Cổ Lao lại cho vua móng rùa làm lẫy nỏ thần.

Hàng năm, hội lễ được tổ chức vào ngày 12 tháng Giêng âm lịch.

Đền Công:

Nay trên núi Mộ Dạ, gần xã Cao Ái, huyện Đông Thành, tỉnh Nghệ An còn đền thờ An Dương vương. Ở đấy, cây cối bốn mùa xanh tốt, chim công đến ở rất nhiều nên dân địa phương gọi là Đền Công, thổ âm đọc là Đền Cuông.

Núi Mộ Dạ là nơi đường cùng của An Dương vương, tương truyền khi ấy ngài khấn thần Kim Quy đến cứu. Thần bảo: “Giặc ngồi sau lưng nhà vua đấy”. An Dương vương giận con gái vì tình chồng vợ đã làm lỡ việc nước, rút kiếm chém Mỵ Nương rồi gieo mình xuống biển tự vận.

DẤU TÍCH TRƯNG NỮ VƯƠNG


Đền Làng Hạ Lôi:

Làng Hạ Lôi, huyện Mê Linh, tỉnh Phú Thọ có đền thờ Hai Bà cùng ông Thi Sách theo vị trí: Bà Trưng Trắc cùng ông Thi Sách thờ ở vị trí chính giữa điện. Bà Trưng Nhị được thờ ở vị trí phụ.

Theo truyền thuyết trong dân gian, ngôi đền nầy chính là nhà xưa của thân mẫu hai bà, được sửa chữa lại.

Cũng có truyền thuyết nói rằng vì Hạ Lôi là kinh đô xưa của Hai Bà, nên về sau, đền thờ được dựng lên ở đây.

Đền làng Hạ Lôi, một năm tổ chức ba hội lễ. Hội lễ ngày 6 tháng Giêng âm lịch, kỷ niệm ngày Hai Bà mở tiệc khao quân để đánh đuổi thái thú Tô Định.

Hôi lễ ngày 8 tháng Ba âm lịch, tưởng niệm ngày hóa (chết) của Hai Bà.

Hội lễ ngày mồng 1 tháng Tám âm lịch, mừng ngày sinh của Hai Bà.

Trong ba lễ hội, hội lễ khao quân để quét quân Hán ra khỏi cõi bờ được tổ chức linh đình trọng thể với rước kiệu theo thứ tự: từ trong đền ra, kiệu rước đi đầu là kiệu ông Thi Sách, thứ nhì là kiệu bà Trưng Trắc, thứ ba là kiệu bà Trưng Nhị.

Ra đến đường cái, dân làng gọi là đường Trống Quân, các kiệu dừng lại để làm lễ “giao kiệu”. Thứ tự là kiệu bà Trưng Trắc đi đầu, kiệu bà Trưng Nhị đi giữa và kiệu ông Thi Sách đi thứ ba. Lý do: Ở trong nhà, ông Thi Sách và bà Trưng Nhị là đạo vợ chồng, bà Trưng Nhị là phận em út. Ra trước làng nước, Hai Bà ở ngôi vua, ông Thi Sách làm tôi, phải đi sau.

Đền Đồng Nhân:
   
Làng Hương Viên, tổng Thanh Nhàn, huyện Thọ Xương, Hà Nội có đền thờ Hai Bà gọi là Đền Đồng Nhân.

Nguyên xưa, đền được dựng trên bãi Đồng Nhân bên bờ sông Hồng, phường Bố Cái, kinh đô Thăng Long. Bãi lở năm 1819, dân làng dời đền về làng Hương Viên, tên Đồng Nhân vẫn giữ.

Hàng năm, hội lễ được mở từ mồng 4 đến mồng 8 tháng Hai âm lịch.

Ngoài lễ nghi quốc tế (cách thức tế lễ của triều đình) còn lễ rước kiệu Hai Bà ra bờ sông Hồng, nơi có đền gốc ở Đồng Nhân. Dừng kiệu ở đấy, dùng thuyền chở đôi chóe đựng nước thờ ra giữa giòng sông, lấy đầy nước, rồi rước về đền. Nước nầy chỉ để dùng trong lễ Mộc Dục (tắm tượng và rửa đồ thờ).

Đền Hát Môn:


Xã Hát Môn, huyện Phúc Thọ, tỉnh Sơn Tây có đền thờ Hai Bà, dựng trên bờ cửa sông Hát (tức sông Đáy).

Hàng năm, hội lễ đền Hát Môn được tổ chức ba lần, mồng 6 tháng Ba, mồng 4 tháng Chín và 24 tháng Chạp.

Cả ba hội lễ trong năm đều được cử hành theo quốc tế, có quan của triều đình về làm lễ.

Hội lễ ngày 6 tháng Ba là ngày hóa của Hai Bà.

Tương truyền xưa, hai bà tụ tập tướng sĩ, mở hội thề ở Hát Môn (cửa sông Hát).

Trong Thiên Nam Ngữ Lục, một chuyện Nôm khuyết danh ở thế kỷ mười lăm có ghi   hội thề Hát Môn bằng bốn câu:

Một xin rửa sạch quốc thù,
Hai xin trở lại nghiệp xưa họ Hùng,
Ba khỏi oan ức lòng chồng,
Bốn xin vẻn vẹn sở công linh nầy


(CHÚ THÍCH:
- Vẻn vẹn: trọn vẹn, hoàn tất
- Công linh: còn gọi là công lênh, nghĩa là công trình, công nghiệp)

Sau ba năm làm chủ sơn hà, Hai Bà thất trận, hai bà phóng ngựa về nơi mở hội thề, có ghé vào quán dân mở ăn bánh trôi và hai quả muỗm (quả xoài). Hai quả muỗm mọc thành hai cây cổ thụ, nay còn trước sân đền. Cũng do tích ấy, trong hội lễ nầy, ngoài các phẩm vật hiến dâng khác, bao giờ cũng có mâm một trăm bánh trôi, viên rất nhỏ. Sau khi tế lễ, làng lấy bốn mươi chín bánh trôi đặt vào lòng bông hoa sen, thả xuống sông để trôi ra bể. Đặc biệt dân làng Hát Môn chỉ ăn bánh trôi sau ngày mồng 8 tháng Ba.

Hội lễ mồng 4 tháng Chín để kỷ niệm Hai Bà xuất quân.

Hội lễ ngày 24 tháng Chạp được tổ chức rất trang nghiêm, đó là lễ Mộc Dục.

Để chuẩn bị cho lễ Mộc Dục, dân làng Hát Môn chọn hai trăm trai tráng, vào đêm 23 rạng ngày 24 rước tượng Hai Bà từ điện thờ ra nhà Dội (nhà tắm tượng), cùng lúc đó, dân chài Hát Môn sắm sửa thuyền bè, chở chóe thờ ra giữa giòng sông Hồng để lấy nước đem về nhà Dội để làm lễ. Tuy gọi là lễ tắm tượng, nhưng thực ra chỉ phủi bụi bặm, rồi dùng khăn tinh khiết nhúng nước, lau chùi cẩn thận. Sau đó, rước tượng về điện.

Trong các ngày mở hội lễ ở đền Hát Môn, theo truyền thống, những người hành lễ, những người diễn trò, toàn thể dân làng, kể cả du khách qua làng, tuyệt đối không được bận quần áo, đội khăn mũ màu đỏ. Toàn bộ đồ thờ trong đền đều một màu đen. Theo truyền thuyết trong vùng, Hai Bà tử trận, máu nhuộm đỏ đất nơi Hai Bà nằm xuống. Do đó, hội lễ kiêng màu đỏ. Như vậy, khác với thuyết nói Hai Bà gieo mình xuống sông Hát tự tử.

Đền Nghè:

Xưa thuộc làng An Biên, bây giờ là phố Lê Chân, tỉnh Hải Phòng có đền thờ bà Lê Chân, một danh tướng của Hai Bà Trưng.

Hàng năm đều mở ba lễ hội:

Hội lễ chính từ mồng 8 đến mồng 10 tháng Hai âm lịch, mừng sinh nhật bà Lê Chân.

Hội lễ 15 tháng Tám, mừng ngày bà đại thắng quân Tàu.

Hội lễ 25 tháng Chạp, tưởng niệm ngày hóa của Bà.

Đình Làng Bối Khê:

Làng Bối Khê, tổng Tam Hưng, huyện Thanh Oai, tỉnh Hà Đông. Đình làng thờ sáu vị thần làm thành hoàng là: Thiên Thần, Thiên Trăng, Trúc Sơn, Địa Tràng, Mộc Thần và Ba Giang.

Theo thần phổ cũng như truyền thuyết trong dân làng, sáu vị thần nầy đã có công trong việc giúp Hai Bà đánh đuổi Tô Định về Tàu.

Hàng năm, hội lễ được tổ chức từ mồng 10 đến 12 tháng Hai âm lịch. Trong hội lễ, ông tiên chỉ làng (người già cả, có uy tín, được dân làng bầu ra) đọc công đức, đánh giặc cứu dân của sáu vị thành hoàng. Sau lễ nghi truyền thống, rước kiệu đưa sáu thần ngắm cảnh non nước ngày xuân, dân làng tổ chức đu tiên, cờ người, hát chèo, đánh côn, đánh vật. Đặc biệt, làng Bội Khê có nghề làm pháo, nên trong suốt lễ hội, pháo nổ vang trời. Pháo đốt đủ kiểu, đủ loại trong suốt ba ngày hội.

Hội Làng Hiền Quang:

Làng Hiền Quang, xã Huyền Quang, huyện Tam Thanh, tỉnh Phú Thọ có hội thờ nữ tướng Thiều Hoa của Hai Bà.

Hàng năm, cứ đến ngày mồng 2 Tết, dân làng bắt đầu mở hội. Hội kéo dài đến hết ngày 13 tháng Giêng âm lịch.

Trong ngày hội, ông tiên chỉ làng bao giờ cũng đọc thần tích bà Thiều Hoa cho dân làng nghe để ghi nhớ và truyền tụng.

Theo thần tích, bà Thiều Hoa nguyên là một cô gái xinh đẹp, cùng quê với đức thánh Tản Viên. Đến tuổi trưởng thành cha mẹ qua đời, bèn rời bỏ quê nhà, đến tu ở chùa Phúc Khánh, thuộc làng Hiền Quang. Tu được một năm thì Hai Bà Trưng phất cờ dấy nghĩa. Bà Thiều Hoa bèn chiêu tập binh mã, theo Hai Bà Trưng, đánh đuổi quân Tàu, lập nhiều công to. Sau khi nước nhà đòi lại được quyền tự chủ, bà Thiều Hoa trở về Hiền Quang xây dựng cơ sở, làm căn cứ vững chắc lâu dài. Một hôm đang đi thăm thú dân tình, bỗng dưng không lời cáo biệt, bà Thiều Hoa thăng hóa lên trời (bay lên trời không trở lại nữa). Dân làng từ đấy mới biết Bà là thần tiên.

Đền Làng Hạ Hiệp:


Làng Hạ Hiệp, huyện Quốc Oai, tỉnh Hà Đông có thờ Hoàng Đạo tướng quân, một danh tướng của Hai Bà.

Hàng năm, cứ đến ngày 13 tháng Hai âm lịch, dân làng mở hội lễ để tưởng nhớ công đức Tướng Quân. Theo truyền thuyết trong làng cũng như theo thần phổ được ông tiên chỉ đọc trong hội lễ thì tướng quân Hoàng Đạo hóa vào ngày 13 tháng Hai.

Hội lễ, ngoài nghi lễ tế tự truyền thống, còn cái cuộc vui như kéo co, đánh vật, đánh côn được diễn ra trước đền thờ. Đặc biệt là rước kiệu từ Quán Dâu, nơi Tướng  Quân tử trận, về đình làng. Sau phần tế lễ long trọng ở đình, rước kiệu đưa Ngài về đền thờ.

Đền Làng Hạ Trì:

Làng Hạ Trì, nay là hai xã Liên Hà và Liên Trung, huyện Đan Phượng, trước thuộc tỉnh Sơn Tây, nay thuộc Hà Nội. Trong làng có đền thờ bà Sa Lãng, một nữ tướng của Hai Bà Trưng.

Làng Hạ Trì tên nôm là Nghiềm. Do đó, hội lễ bà Sa Lãng còn gọi là hội Nghiềm. Hàng năm cứ đến ngày mồng 7 tháng Ba âm lịch thì mở hội và vãn hội tối ngày 8 tháng Ba.

Theo thần phổ cũng như truyền thuyết trong làng, bà Sa Lãng cùng anh ruột là ông Hùng Linh, con quan Lạc tướng, dấy binh chống nhà Đông Hán. Ông Hùng Linh bị giặc sát hại. Kịp đến khi Hai Bà Trưng phất cờ dấy nghĩa, bà Sa Lãng kéo quân về theo, lập nhiều chiến công. Khi Mã Viện kéo quân sang, bà chiến đấu dũng cảm và tử trận ngày 8 tháng Ba âm lịch.

Đền Làng Thượng Thanh:

   
Làng Thượng Thanh, xã Thanh Cao, huyện Thanh Oai, tỉnh Hà Đông có đền thờ Cai Công (ông Cai).

Theo truyền thuyết, ông là đàn ông, mặc giả làm đàn bà, tụ tập quân lính theo Hai Bà Trưng. Ông mất ngày 7 tháng Bảy âm lịch.

Hàng năm cứ đền ngày 7 tháng Bảy, dân làng Thượng Thanh tổ chức giỗ ông rất linh đình. Lại mở hội lễ ngày mồng 10 tháng Hai, vãn hội đêm 12 tháng Hai âm lịch để mừng sinh nhật ông.

Trong ngày giỗ cũng như hội lễ sinh nhật ông, lễ vật toàn đồ chay. Tương truyền sau khi đánh đuổi Tô Định, dân làng mổ trâu bò khao quân, ông cùng binh tướng từ chối không ăn và khuyên dân làng:

“Người Đông Hán ác hơn lang sói nên ta cùng nhau đánh đuổi. Riêng lòng ta thương sót sinh linh, không đành ăn thịt các loài vật.”

Đặc biệt trong hội lễ, có rước kiệu Cai Công với hai chục trai làng, ăn mặc giả gái. Kiệu được rước từ đền thờ ông đến đình làng, làm lễ xong, lại rước về miếu. Hai chục trai làng ăn mặc giả gái tượng trưng cho đạo binh giả gái xưa của ông.

Đền Làng Lai Tảo:

Làng Lai Tảo, xã Bột Xuyên, huyện Mỹ Đức, Hà Nội thờ thành hoàng là ba anh em ông Cao Quốc Minh, Cao Tuấn Công và Cao Chân Pháp. Cả ba ông đều là tướng của Hai Bà Trưng, theo truyền thuyết cũng như theo thần phổ.

Hàng năm, cứ đến ngày 12 tháng Mười âm lịch, dân làng mở hội. Tương truyền, đó là ngày ba anh em họ Cao vừa thắng một trận lớn, ghé qua làng định nghỉ quân. Dân làng mổ lợn, ngâm nếp định khao quân. Chưa kịp nấu nướng thì ba vị tướng quân được lệnh phải lên đường ngay. Do đó, dân làng mang cả gạo thịt sống theo đoàn quân.

Để tưởng nhớ sử kiện đó, hàng năm, dân làng Lai Tảo, tế thành hoàng bằng thịt sống và gạo nếp sống.

Đền Làng Thượng Hạp:


Làng Thượng Hạp, thuộc huyện Vĩnh Lạc, tỉnh Vĩnh Yên có đền thờ tướng quân Cao Nguyên, một tướng của Hai Bà Trưng đã tuẫn tiết cùng đạo quân của bà Man Thiện. Dân làng Thượng Hạp giành được xác tướng quân, đắp mộ và xây miếu thờ và tôn làm thành hoàng.

Hàng năm, hội lễ được tổ chức sau ngày tết nguyên đán.

Đền Làng Tiên La:

Làng Tiên La, xã Đoan Hùng, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình có đền thờ Bát Nạn công chúa Vũ Thị Thục, một nữ tướng tài ba xuất chúng của Hai Bà Trưng.
       
Bát Nạn công chúa đã hy sinh ngày 18 tháng Ba năm Quý Mão (năm 43 sau Tây Lịch), ở làng Tiên La.

Hàng năm, dân làng mở hội lễ từ ngày 16 đến 18 tháng Ba âm lịch. Người làng Tiên La gọi Bát Nạn công chúa là Thánh Bát Nạn (Bát Nạn nghĩa là dẹp nạn, cứu dân)

Ngoài nghi thức tế lễ truyền thống, còn có rước kiệu Thánh Bát Nạn và những cuộc vui như múa kiếm, múa roi, đánh côn, bơi trải (bơi thuyền).

Đặc biệt trong cuộc đua tài bơi trải, có các cô gái chưa chồng, thanh niên chưa vợ, tay cung, tay kiếm đứng hai bên bờ giả làm lính của thánh Bát Nạn.

DẤU TÍCH NHÀ TRIỆU

Ở đây, chưa bàn đến vấn đề chính thống hay không chính thống của triều đại nhà Triệu. Tìm dấu tích nhà Triệu trong dân gian không ngoài mục đích bổ túc thêm phong phú cho những sử kiện vốn dĩ đã phong phú, được người dân Việt gìn giữ liên tục hàng ngàn năm trong cuộc sinh tồn ba đào không dứt.

Đền Làng Đồng Sâm:

Làng Đồng Sâm, tổng Hồng Thái, tỉnh Thái Bình có lăng Triệu Vũ đế (tức Triệu Đà), lại có hai đền thờ. Đền chính, thờ Triệu Vũ đế. Bên cạnh có đền thờ hoàng hậu Trình thị, gọi là đền Thượng Hòa.

Theo truyền thuyết, hoàng hậu Trình thị của Triệu Vũ đế quê ở Đồng Sâm, mất ngày 20 tháng Chạp. Hàng năm, dân làng mở hội đền ngày mồng 1 tháng Tư âm lịch. Tục truyền đó là lễ một trăm ngày sau khi Trịnh hoàng hậu mất. Hội lễ đóng ngày 3 tháng Tư âm lịch.

Hội lễ được tổ chức trọng thể với sự cộng tác của dân hai làng Tả Phụ và Hữu Dực. Ngày 26 tháng Ba mở cửa đền. Ngày 30 tháng Ba lễ Mộc Dục.

Vào hội, khởi đầu là rước lễ hoàng hậu (dân địa phương tôn làm Thánh Bà) từ đền Thượng Hòa ra đền chính để diện kiến Hoàng Đế. Đoàn rước gồm toàn thiếu nữ đồng trinh, mặc đồng phục, mang bát bửu. Khi đến đền chính, cuộc tế bắt đầu. Ngoài nghi thức tế lễ truyền thống, còn có những cuộc vui như đánh cờ, hát chèo, ca trù, đấu vật, bơi trải.

Hôi đền Đồng Sâm vãn ngày 3 tháng Tư âm lịch bằng cuộc rước Thánh Bà từ đền chính về đền Thượng Hòa.

Đền Làng Văn Côi:

Làng Văn Côi, tổng Văn Côi, huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định, có đền thờ anh hùng Lữ Gia ở chân núi Gôi. Dân địa phương gọi ngài là thánh Lữ Gia.

Làng Văn Côi cùng ba làng Mỹ Côi, Vân Côi và Côi Sơn thuộc tổng Vân Côi là bốn làng Việt cổ, trải qua các triều đại Đinh, Lê, Lý, Trần, Lê, Nguyễn luôn được triều đình gởi sắc chỉ về, xác định bốn làng được dựng từ thời họ Hồng Bàng làm vua.

Hàng năm, hội lễ thánh Lữ Gia được tổ chức từ mồng 6 đến mồng 10 tháng Giêng âm lịch. Tế ngài được tổ chức theo nghi thức triều đình ấn định, gọi là quốc tế. Ngoài quốc tế còn tổ chức trong hội lễ những cuộc vui như đấu vật, đánh côn, hát chèo, bơi trải. Cả bốn làng Văn Côi, Mỹ Côi, Vân Côi và Côi Sơn cùng tổ chức hội lễ thánh.

Kiệu Thánh được rước qua các đình của cả bốn làng. Đặc biệt của hội lễ là lễ Hoa Ký, lễ nầy phải chọn một thiếu nhi đồng nam, tuấn tú thông minh dâng lên Thánh với lời nguyện khấn cùng dân bốn làng noi gương Thánh xưa, giữ gìn non nước, không tiếc thân mình.

Đền thánh Lữ Gia nền bằng đá xanh, chung quanh xây tường bằng đá xanh, rộng lớn khoảnh khoát, có thời được dùng làm trường tiểu học cơ bản (từ lớp năm đến lớp nhất, bây giờ gọi là từ lớp một đến lớp năm). Theo ý dân làng, mở trường tại đền nhằm mục đích để con em noi gương Thánh, lớn lên hết lòng vì nước.

Cách đền khoảng 200 công xích (thước tây) là đền Thánh Độc Cước (không biết tên họ), theo truyền thuyết, Thánh Độc Cước là tướng cận vệ của thánh Lữ Gia.

Mộ hai Thánh để ở chân núi Gôi, xây bằng đá xanh kiên cố.

Trong thời chiến tranh Thực Cộng, thực dân Pháp chiếm chùa Vôi ở Vụ Bản làm nơi đóng quân. Tháng 11 năm 1949, Pháp phá đền thánh Lữ Gia, lấy đá xanh đem về chùa Vôi để làm hào, lũy tránh mìn, đạn. Đến nay, đền Thánh vì nước không biết đã được dựng lại chưa?

2.
Nhân loại, dù sống ở bất cứ  không gian và thời gian nào, cũng đều có chung một yếu tính làm người, cao cả vượt trên muôn loài. Hoàn cảnh sống với những điều kiện khác biệt đã khiến cho phong tục tập quán của mỗi xã hội có những nét riêng tư độc lập, nhưng tựu trung, cốt lõi của đạo đức nhân bản vẫn đồng nhất với nền tảng là đức nhân. Đi vào đáy cùng giáo lý của những tôn giáo chính đáng sẽ chỉ còn tấm yêu sáng rực.

Trong cuộc đời thực tế, gian lao đối đầu với những khó khăn, xử trí dụng mưu nhiều khi thái quá, uể oải, lu mờ dần đức nhân, tình người rạn nứt, đưa đến những tranh đua đố kỵ, đến cả chiến đấu hận thù. Người bi quan nhìn dòng lịch sử nhân loại như lịch sử chiến tranh nối tiếp không thôi, qua từng thế hệ. Kẻ đi xâm chiếm, gây việc binh đao, dù có đeo mặt nạ với hình thức giá trị nào, thực chất chỉ là tranh quyền cướp lợi, tồi tàn đê hạ.

Phương Đông, học thuyết Đại Đồng nhân bản, lấy Nhân làm nền tảng, lấy Nghĩa làm chất liệu, lấy Lễ làm trật tự, lấy Trí làm ánh sáng soi đường, lấy Tín làm quy ước xử thế, nhằm đưa nhân loại đến một xã hội hài hóa lẽ sống tình người, không đấu tranh sân hận, không phân ly giai cấp, không giành giật lợi quyền. Học thuyết này được đề xướng hơn 2.500 năm nay, xã hội Đại Đồng nhân bản vẫn chưa một lần thành tựu. Dọc 2.500 năm ấy, nhân loại có tiến hóa về văn minh vật chất, nhưng tuyệt nhiên không một bước tiến hóa về văn hóa nhân tính. Nhân loại nếu không níu vào cái phao đạo đức hoặc tôn giáo đã có từ thời xa xưa xa thẳm để tâm hồn được sống thì hẳn đã chết đuối trong bể vật chất phi nhân.

Các thế lực quản trị Trung Hoa, qua nhiều triều đại, đã nhân danh học thuyết Đại Đồng nhân bản, gian ngoan với mặt nạ “tình bốn bể là nhà”, “nghĩa bốn bể là anh em”, dùng bạo lực xâm lược đem ách đô hộ đè lên các nước nhược tiểu. Dân các nước ấy, phần bị tàn sát, phần bị đồng hóa để cho Trung Hoa mở rộng biên cương. Bách Việt cũng không tránh khỏi dòng cuồng lưu tham tàn ấy. Cho đến bây giờ, dân vùng Mân Việt, Âu Việt, Tây Việt, tuy có biết tổ tiên xa xưa thuộc dòng Bách Việt, nhưng thân phận đã chìm lẫn vào Tầu. Nay tuy có những nhóm nhỏ nhoi, được lập thành Bách Việt Dân Tộc Sử Nghiên Cứu Hội, tác phẩm giá trị ấn hành ít ỏi nghèo nàn. Chúng tôi được thân bằng vì tình tri ngộ gửi tặng hai bộ: “Bách Việt Dân Tộc Sử Lận Tập” và “Bách Việt Dân Tộc Sử”, mỗi bộ được Trung Quốc Xã Hội Khoa Học Xuất Bản Xã in 1.000 cuốn. 1.000 cuốn sách phát hành trong một nước có dân số bằng 1/3 tổng số người trên thế giới, khác gì đem một thìa muối để đổ xuống biển khơi! Công trình nghiên cứu của Hội này chỉ như một cung tơ nức nghẹn giữa vùng muôn ngàn chiên trống. Chỉ duy Lạc Việt tức Việt Văn Lang vượt thắng những ba đào lịch sử, tồn tại làm một nước độc lập, giữ được nguyên vẹn dân tộc tính như Nguyễn Trãi đã viết trong Bình Ngô Đại Cáo: “Như nước Việt ta từ trước, vốn xưng văn hiến đã lâu. Sơn hà cương vực đã chia, phong tục Bắc Nam cũng khác.” (Bắc chỉ Trung Hoa, Nam chỉ Việt Nam).

BÁCH VIỆT CHUNG MỘT GỐC NGUỒN

Chữ Việt, có hai cách viết bằng chữ Nho: một thuộc bộ “tẩu” và một thuộc bộ “mễ”.
thu-vien-viet-nam-little-saigon-tai-lieu-chu-viet-bo-me


Chữ Việt bộ tẩu, biểu tượng cho ý nghĩa cao quí dấn thân, khai phá những nơi còn thâm u tăm tối bằng ánh sáng văn hóa tình người, dựng nên xã hội định cư ấm cúng với nền văn minh tồn trữ, khác biệt với nền văn minh du mục của người phương Bắc.

thu-vien-viet-nam-little-saigon-tai-lieu-chu-viet-bo-tau

Chữ Việt bộ mễ, biểu tượng ý nghĩa định cư, khai khẩn đất hoang be bờ dẫn nước, cấy cày lúa nước, làm thành một nền văn minh nông nghiệp, có tính cách tồn trữ, cao cả vượt trên các bộ tộc còn lang thang đó đây để mưu việc sinh nhai.

Vĩ chữ Việt có hai cách viết khác nhau, đã có người lầm tưởng Việt bộ tẩu là Việt Nam ta, Việt bộ mễ là dân Việt ở vùng Quảng Tây, Quảng Đông, Phúc Kiến, Triết Giang v.v...

Theo Bách Việt Tiên Hiền Chí, một bộ Lĩnh Nam Di Thư quí báu, được sử quán nhà Minh khắc in trọn bộ, góp vào Văn Nghệ Chí, làm sử liệu chính xác, các nhà viết sử nương tựa vào để trích dẫn hoặc dẫn chứng: Việt bộ tẩu và Việt bộ mễ là một.

Theo Khang Hy Tự Điển, bộ tự điển nghiêm túc được văn học Trung Hoa tin tưởng, Việt bộ tẩu và Việt bộ mễ là một.

Theo Từ Hải, bộ bách khoa tự điển của Trung Hoa, Việt bộ tẩu và Việt bộ mễ là một.

Vậy, phân biệt hai cách viết của chữ Việt và gán cho mỗi cách viết mang một ý nghĩa khác  nhau chỉ là tưởng tượng mơ hồ của người hay chữ lỏng, nếu không phải là chủ trương phân ly Bách Việt của kẻ có ý đồ đen tối.

Về thủy tổ Bách Việt, truyền khẩu cũng như sử sách Việt Nam đều đồng nhất:

“Cháu ba đời vua Thần Nông là Đế Minh đi tuần thú phương Nam đến Ngũ Lĩnh, gặp nàng vụ tiên (nàng tiên đẹp, cần mẫn, nết na), lấy nhau sinh ra Lộc Tục. Lộc Tục có thánh đức, Đế Minh muốn truyền ngôi. Lộc Tục cung khiêm, không dám nhận. Đế Minh bèn truyền ngôi cho con trưởng là Đế Lai làm vua phương Bắc, phong Lộc Tục làm vua phương Nam. Lộc Tục xưng là Kinh Dương vương (vua châu Kinh và châu Dương), đặt quốc hiệu là Xích Quỷ. Nước Xích Quỷ bắc giáp Động Đình hồ, nam giáp nước Hồ Tôn, tây giáp Ba Thục, đông giáp bể Nam Hải. Vua lên ngôi năm Nhâm Tuất (2879 trước kỷ nguyên Tây lịch).

Kinh Dương vương kết hôn với nàng Long Nữ con gái vua xứ Động Đình sinh ra Sùng Lãm.

Sùng Lãm nối ngôi, xưng Lạc Long Quân, kết hôn cùng nàng Âu Cơ, con gái vua Đế Lai, sinh được trăm trứng, nở thành trăm con trai. Một hôm Lạc Long Quân bảo bà Âu Cơ: “Ta là dòng dõi rồng, nàng là dòng dõi tiên, ăn ở lâu với nhau không được. Nay được trăm trai, nàng hãy dẫn 50 con lên núi, ta dẫn 50 con xuống miền Nam Hải. Dù ở đâu cũng không được bỏ nhau.”

Con trưởng được dựng làm vua, đổi quốc hiệu là Văn Lang, xưng là Hùng vương, đóng đô ỡ Châu Phong (nay là huyện Bạch Hạc thuộc tỉnh Vĩnh Yên). Các vua nối tiếp đều xưng là Hùng vương, truyền được 18 đời, đến năm Quý Mão (258 trước kỷ nguyên Tây lịch) thì mất về nhà Thục.

Một trăm con trai của Lạc Long Quân và bà Âu Cơ là tổ của Bách Việt.”

Đoạn sử trên hàm chứa nhiều ẩn dụ mang sắc thái huyền thoại. Đó là điều thường gặp nơi cổ sử của các dân tộc Á cũng như Âu. Lý giải theo nghĩa của ngôn từ ngày nay sẽ đưa đến nhiều kết luận khác biệt. Trong phạm vi bài viết này, chúng tôi chỉ thích nghĩa hai quốc hiệu Xích Quỷ và Văn Lang.

Xích Quỷ: Xích là màu đỏ, màu của lửa, cũn là màu được dùng để chỉ phương Nam, biểu tượng cho lòng nhân ấm áp tình người. Thành ngữ xưa có câu “Nam phương hỏa đức thịnh”, nghĩa đen là: phương Nam thịnh về đức lửa. Nghĩa bóng là: phương Nam giàu lòng nhân. Thần sao Nam Tào được giữ sổ sinh (sổ ghi về sự sống, tuổi thọ của mọi người trên mặt đất) là một vị văn quan mặt đỏ.

Đoạn Trung Dung sau đây nói minh bạch về lòng nhân của phương Nam: “Tử Lộ vấn cường. Tử viết: Nam phương chi cường dư? Bắc phương chi cường dư? Ức nhi cường dư? Khoan dung dĩ giáo, bất báo vô đạo, nam phương chi cường giã, quân tử cư di. Nhậm kim cách, tử nhi bất yếm, bắc phương chi cường giã, nhi cường giả cư chi.” nghĩa là: “Thầy Tử Lộ hỏi về sức mạnh. Khổng Tử nói: “Sức mạnh của phương Nam ư? Sức mạnh của phương Bắc ư? Anh muốn biết về sức mạnh ư? Đem lòng rộng lượng hiền hòa để giáo hóa người, dẫu đối với kẻ vô đạo cũng không báo thù báo oán, đó là sức mạnh của phương Nam. Người quân tử ở đấy. Mặc giám cầm gươm, xông pha đánh giết, đến chết cũng không chán, đó là sức mạnh của phương Bắc. Người cường bạo ở đấy.” (Trung Dung – bài thứ 10 Tử Lộ Vấn Cường).

Quỷ: thiên Lễ Vận nơi Lễ Ký có ghi câu: “Trình bày dâng lên quỷ thần”, lại  chú giải “quỷ là nơi linh hồn tinh anh trở về.”

Thiên Đoan Thiên nơi sách Liệt Tử có viết “Các tinh thần lìa hình thể đều trở về nơi chân thực nên gọi là quỷ. Nơi quỷ trở về là nơi cư ngụ chân thực của mình.”

Quỷ còn là tên vị sao sắc trắng, một sao trong nhị thập bát tú.

Như vậy, Xích Quỷ có nghĩa là “Khi sống lấy đức nhân mà hành xử việc đời. Khi chết, tinh thần trở về nơi cư ngụ chân thực, vĩnh cửu.” Đồng thời cũng hàm chứa ý nghĩa về địa dư: nước ở phương Nam, sao Quỷ xác định địa giới.

Văn Lang: chữ văn có nhiều ý nghĩa phức tạp và khác biệt. Chúng tôi chọn nghĩa chữ “văn” nơi sách Sử Ký và sách Luận Ngữ.

Theo Sử Ký thụy pháp (Sử Ký của Tư Mã Thiên, chương viết về phép đặt tên thụy, tức tên mà người sống xét phẩm cách của người chết mà đặt cho) có ghi: “Kinh vĩ thiên địa viết văn. Đạo đức bác văn viết văn. Cần học, hiếu vấn viết văn. Từ huệ ái dân viết văn. Mẫn dân huệ lễ viết văn. Tích dân tước vị viết văn.” nghĩa là: “Dọc ngang trời đất gọi là văn. Đạo đức, nghe rộng gọi là văn. Chăm học, ưa hỏi gọi là văn. Hiền từ, thương xót, yêu dân gọi là văn. Thương yêu, giữ lễ với dân gọi là văn. Ban thưởng tước vị cho dân gọi là văn.”

Sách Luận Ngữ, chương Tử Hãn có ghi lời Khổng Tử khi ngài bị người ấp Khuông, một ấp thuộc nước Vệ đời Xuân Thu, vây khốn vì ngộ nhận ngài là ác nhân Dương Hổ: “Văn vương ký một, văn bất tại tư hồ? Thiên chi tương tán tư văn giã, hậu tử giả bất đắc dự ư tư văn giã, hậu tử giả bất đắc dự ư tư văn giã. Thiên chi vị táng tư văn giã, Khuông nhân kỳ như dư hà?” nghĩa là: “Văn vương đã chết, “văn” không do ta gánh vác hay sao? Nếu trời muốn chôn vùi “tư văn” thì kẻ chết sau Văn vương là ta không được tham dự vào “tư văn”. Nếu trời chưa muốn chôn vùi “tư văn” thì người ấp Khuông làm gì được ta?” Tư văn theo Nho học là đạo trời. Chu Hy, học giả đời Tống chú thích: “Đạo chi hiển giả vị chi văn” nghĩa là: “Đạo trời sáng tỏ gọi là văn.”

Lang. Chữ “lang” gồm chữ “lương” là lương thiện bên bộ “ấp” là vùng đất. Do vậy, “lang” là vùng đất của người lương thiện hay đất nước của người lương thiện.

Văn Lang, quốc hiệu thời các vua Hùng, hàm chứa ý nghĩa: Vua mở tấm lòng giữa vùng trời đất, lá bậc đạo đức cao, nghe nhiều biết rộng. Đối với mình thì cố gắng học hỏi, mở mang tri thức. Đối với dân thì hiền từ, yêu thương và biết giữ lễ với dân, lại c lòng xót xa nỗi vất vả mà người dân gánh chịu nên sáng suốt ban thưởng cho người có công. Do vậy, đã tạo nên đất nước trong đó người dân sống đời lương thiện.

Sử là bộ môn khoa học nhân văn, đòi hỏi phải trung thực khách quan, ghi chép sử kiện của từng giai đoạn một cách đầy đủ. Oái ăm, khi viết sử nước nhà, không ai có thể gạt bỏ hoàn toàn tình cảm yêu ghét. Càng oái ăm hơn, sự kiện lịch sử không thể tái thiết để thí nghiệm kiểm chứng. Hậu thế đọc sử, không ít thì nhiều, có những điều thắc mắc hoài nghi. Do vậy, sử luận cần phải có. Nhưng, những bộ óc luận bàn lịch sử lại cũng không thể tuyệt đối khách quan. Và, cái vòng “luẩn quẩn” không có điểm ngừng ấy hẳn nhiên làm nảy sinh những quan điểm, những kết luận dị biệt, đôi khi mâu thuẫn. Nơi đây, chúng tôi đặt nặng về sử kiện hơn là sử luận, nhằm mục đích đóng góp cùng độc giả những tài liệu quý giá có liên quan hệ trọng đến gốc nguồn xa xưa của dân tộc Việt. Đặc biệt, những tài liệu này được lưu trữ tại Trung Hoa, một nước truyền kiếp tìm cách thôn tính, đồng hóa dân nước ta. Mong độc giả đối chiếu và suy ngẫm.

Tác phẩm Bách Việt Tiên Hiền Chí, soạn giả Âu Đại Nhậm người huyện Thuận Đức, nay thuộc địa phận tỉnh Quảng Đông, được sử quán nhà Minh xác nhận là chính xác, in toàn bộ bản thảo vào Nghệ Văn Chí, dùng làm tài liệu cho các nhà viết sử tra cứu, trích dẫn. Âu Đại Nhậm đã tự viết bài tựa như sau:

Việt (bộ tẩu - xem chữ Nho ở trên) và Việt (bộ mễ - xem chữ Nho ở trên) là một vậy. Theo Vũ Cống, ngoại cảnh châu Dương, từ Ngũ Lĩnh đến biển, đều là biên giới phương Nam nước Việt. Vua Vũ đi khắp thiên hạ, nhận định địa lý hình thể, địa lý nhân văn, rồi trở về nước Việt, họp chư hầu bàn định kế hoạch hưng quốc an dân. Thiếu Khang (vua thứ sáu nhà Hạ) phong cho con thứ là Vô Dư giữ đất Cối Kê, lo việc phụng thờ tế tự vua Vũ. Vô Dư ở Cối Kê, giữ tục truyền thống: xâm mình cắt tóc ngắn, phát cỏ khẩn hoang, định cư lập ấp, sống theo phong hóa nông nghiệp.

Hơn 20 đời sau Vô Dư, đến con của Doãn Thường là Câu Tiễn, diệt Ngô mà xưng vương, đóng đô ở Lang Gia, uy hùng xây dựng nước nông nghiệp vậy.

Cháu 6 đời của Câu Tiễn là Vô Cương cất quân đánh Sở, bị vua Sở là Hùng Thích đánh bại. Vô Cương bỏ Lang Gia, đi đến ở Đông Vũ. Nước Việt tan. Các con của Vô Cương định cư ở duyên hải Giang Nam, chia nhau kẻ làm quân trưởng, người làm vương, tất cả đều thần phục Sở, gọi là Bách Việt. Châu Dương từ đấy bị phân chia. Cối Kê lấy các sao phương Nam là sao Thuần, sao Vỹ để định cương giới, đất Cối Kê thuộc vào Nam Hải.

Khi Tần diệt Sở, Vương Tiễn cai trị Dương Việt, chia cắt thành 3 quận Nam Hải, Quế Lâm và Tượng (quận). Con cháu Úy Đà (tức Triệu Đà) thần phục nhà Hán. Họ Triệu cai trị cả ba quận ấy, lại kiêm thêm các quận Hợp Phố, Thương  Ngô, Uất Lâm, Giao Chỉ, Cửu Chân, Châu Nhai, tổng cộng là 9 quận vậy. Nay vùng Nam Việt, bắc giáp Cô Tư đến tận Cối Kê là đất của Việt vậy. Phía đông, Vô Chư, đóng đô ở Đông Trị đến Chương Tuyền là Mân Việt. Đông Hải vương là Diêu, đóng đô ở Vĩnh Gia là Âu Việt. Lãnh thổ xưa của Dịch Hu Tống, chạy từ sông Tương, sông Ly về phía nam là Tây Việt vậy. Các đất Tang Ca, Tây Hạ, Ung, Dung, Tuy, Kiến là Lạc Việt vậy.

Người Hán bảo Việt gần biển, nhiều sừng tê, đồi mồi, ngọc, trai, bạc, đồng, trái cây, vải vóc.

Ôi! Vùng đất có những thứ quý báu ấy, há chẳng phải do dương đức thịnh hay sao? Vì dương đức thịnh đã chung đúc nên nhân văn, áo mũ, lễ nhạc chẳng thua kém gì thanh giáo Đường Ngu. Như thế nào có phải Nam Giao buổi ban sơ là tà đâu?

Ta được biết Thái Sử Công (Sử gia Tư Mã Thiên) có viết rằng: "Việt tuy bị gọi là man di, nhưng tiên khởi đã có đại công đức đối với muôn dân vậy". Nơi sách Xuân Thu có ghi chép việc Câu Tiễn từ Việt tiến vào Ngô. Man di mà làm được việc ấy ư? Thủa ấy Việt đã có văn hiến cao, cho nên người Việt đã biết bền gan sống cảnh khổ thân, mệt sức, với mưu sâu thần kế, rửa sạch cái nhục bị ngoại nhân trói buộc, kiểm soát ăn nằm. Việt đã có quyền uy, hiệu lệnh cả Trung quốc phải tuân theo răm rắp), vậy mà vẫn tôn thờ nhà Chu, giữ trọn điều trung điều lễ.

Từ Tần, Hán trở về sau, Việt có họ Sô với Vô Chư, với Diêu, họ Triệu với Đà với Quang, đều là những bậc sự nghiệp lẫy lừng, kẻ tả hữu là người Việt tài ba xuất chúng không ít. Xem như họ Lưu với Đông, Tây hai kinh, bày tôi công nghiệp lớn lao, văn chương lỗi lạc, kẻ bắc người nam nước Việt, bảy tám ngàn dặm xa xôi, đến từ Bạc Hải, Giao châu càng nhiều lắm vậy...”

Từ Hải – bộ bách khoa của Trung Hoa về Bách Việt có ghi 2 cách viết chữ Bách Việt, tên chủng tộc. Theo sách Thông Khảo Dư Địa Khảo, chương Cổ Nam Việt viết: “Đương thời Đường Ngu, Tam Đại, từ Ngũ Lĩnh về phía Nam là nước của người Man di, ấy là đất của Bách Việt.” Sách này lại ghi chú: “Từ Giao Chỉ đến Cối Kê, bảy tám ngàn dặm, chủng tộc Bách Việt sống lẫn với các sắc dân khác, nhưng luôn luôn giữ được cá tính của chủng tộc.”

Tứ Khố Toàn Thư, mục Bách Việt Tiên Hiền Chí Đề Yếu viết: “Việt là nước phương Nam. Cháu 6 đời của Câu Tiễn là Vô Chư bị Sở đánh bại, các con phân tán, đến ở duyên hải. Những người nổi danh là Vô Cương cai trị một giải đất từ Đông Việt đến Chương Tuyền, đóng đô ở Đông Giã, dựng nên Mân Việt; Đông Hải vương tên Diêu, đóng đô ở Vĩnh Gia, dựng nên nước Âu Việt; từ sông Tương, sông Ly về phía Nam là nước Tây Việt; từ Tang Ca xuống phía Tây, các đất Ung, Ung (Bách Việt Tiên Hiền Chí, Việt Sử Lược ghi là đất Dung), Tuy, Kiến là Lạc Việt; gọi chung là Bách Việt.”

Cũng theo Từ Hải, Hán Thư có ghi: “Người Lạc Việt, cha và con trai tắm cùng sông, cùng tập cho nhau uống nước bằng mũi.”

Về chữ “chỉ” trong từ ghép “Giao Chỉ”: Khang Hy Tự Điển, Từ Hải ấn hành từ 1947 về trước, Hán Việt Tự Điển của Thùy Chửu đều giảng nghĩa “chỉ” là cái chân. Riêng Hán Việt Tự Điển của Thùy Chửu và Từ Hải ấn hành sau 1950 có ghi chú thêm: sau này cũng gọi “chỉ” là ngón chân.

Về Giao Chỉ, Từ Hải ghi: Theo sách Lễ Vương chế, người Man ở phương Nam, xâm trán, giao chỉ. Lại giảng rõ thêm: chỉ là chân vậy. Người Man khi nằm, đầu hướng vào trong, chân hướng ra ngoài, hai chân gác tréo lên nhau nên gọi là giao chỉ.

Qua phần trình bày trên, nhận thấy những sử kiện tồn lưu trong truyền khẩu cũng như sử sách của ta, đối chiếu với những sử kiện được tồn lưu ở Tàu, ở thời khởi nguyên dựng nước, tương đồng về địa giới và phong hóa. Điểm khác biệt duy nhất: theo sử liệu ta, tổ nguyên thủy là Kinh Dương vương, trăm con trai của Lạc Long Quân là tổ của Bách Việt. Theo sử liệu còn lưu trữ bên Tàu, vua Vũ trị nạn hồng thủy là tổ nguyên thủy, các con của Vô Chư (cháu 6 đời của Câu Tiễn) là tổ của Bách Việt.

Tư kiến cá nhân người biên soạn bài này, không quyết đoán khẳng định, chỉ suy đoán có lẽ: 50 con trai theo Lạc Long Quân xuống khai phá miền duyên hải, hậu duệ lâu ngày sống xa đất tổ Kinh Dương, nên về tộc phả gốc nguồn chỉ còn biết đến vua Vũ (vua Vũ lên ngôi năm 2205 trước kỷ nguyên Tây lịch).

Theo Đại Việt Sử Lược do sử gia ẩn danh đời Trần biên soạn, bị nhà Minh tịch thu đem về Tàu, tàng trử vào kho sử thì: “Việt vương Câu Tiễn nhiều lần sai sứ sang dụ, vua Hùng vương cự tuyệt không nghe theo.” (Bộ Đại Việt Sử Lược này bị nhà Minh tịch thu đem về Tàu, tàng trữ trong kho sử của Tứ Khố Toàn Thư – Bốn kho sách của triều đình, gồm Kinh, Sử, Tử, Tập – Sau, vua Càn Long nhà Thanh mở Tứ Khố, cho ấn hành. Nhờ vậy người Việt Nam mới có pho sách này của tiền nhân. Chúng tôi có một bản).

*
* *

Văn hiến chủng tộc Bách Việt, nơi Việt Văn Lang đã hiển nhiên với chúng ta. Các chi Việt khác, xa xôi cách trở, tài liệu chuyển đến ta thật khó khăn nên hiếm hoi. Thêm vào đó, người Hoa tự xưng là Trung quốc, vua là con trời, bao nhiêu người sống dưới gầm trời đều là con dân của “thiên tử”. Các hiền nhân lỗi lạc của Bách Việt họ đều nhận là người của họ.

Dưới đây, chúng tôi trích dịch một vài hiền tài lỗi lạc của chủng Bách Việt để biểu trưng phần nào cho nền văn hiến Việt, một nền văn hiến do chính người Việt tạo dựng thành, không vay mượn của bất cứ ngoại tộc nào, không nhờ cậy bất cứ ngoại tộc nào dạy dỗ.

KHUẤT NGUYÊN: hiền triết thi nhân, kiêm cả tài kinh bang tế thế, học rộng, nhớ lâu, thấy rõ lẽ trị loạn. Sử Ký Tư Mã Thiên, chương Khuất Nguyên liệt truyện có viết: ông vào cung thì cùng vua bàn tính việc nước, ban bố các mệnh lệnh, ra thì tiếp đãi tân khách, ứng đối với chư hầu. Nhà vua (Sở Hoài vương) rất tin dùng. Sau đại phu Thượng Quan vì đố kỵ mà dèm pha. Vua Sở bỏ rơi Khuất Nguyên. Khuất Nguyên buồn giận mà làm ra Ly Tao.

Về Ly Tao, Tư Mã Thiên viết: “Ly Tao là lòng buồn trong chia ly. Trời là khởi thủy của loài người. Cha mẹ là gốc của con người. Người ta gặp lúc khốn cùng thì quay về gốc. Cho nên hễ khó nhọc mỏi mệt, ốm đau, không ai không kêu trời! Khi đau xót, thương cảm, không ai không kêu cha mẹ. Khuất Bình theo đạo ngay, đi đường thẳng, dốc hết lòng trung, đưa hết trí khôn ra thờ vua, nhưng lại bị kẻ dèm pha ly gián, có thể gọi là ở vào hoàn cảnh khốn cùng vậy. Mình tín mà bị ngờ vực, mình trung mà bị chỉ trích, làm sao khỏi oán thán! Khuất Bình viết Ly Tao là do oán thán mà ra vậy! Thơ Quốc Phong mê sắc mà không dâm, thơ Tiểu Nhã oán trách mà không loạn. Như Ly Tao thực là gồm được cả hai...” (Phan Ngọc dịch)

Tư Mã Thiên không viết về quê quán của Khuất Nguyên. Từ Hải, bản đầu tiên ấn hành vào tháng 3 năm 1947, tái bản tháng 2 năm 2003, về quê quán ông có ghi: “Theo Hậu Hán Thư, kỷ Hòa Đế, mục Tỷ Quy sơn băng (núi Tử Quy đổ) có ghi chú: Tỷ Quy huyện thuộc Nam Quận, nay là Quy Châu. Viên Tung nói: Khuất Nguyên người huyện này, đã bị nước cuốn trôi đi.  Khi chi đến tìm, hốt nhiên xác ông trôi ngược trở về. Nhân việc ấy, lấy chữ Tỷ (nghĩa là chị) chắp với chữ Quy (về) mà đặt tên huyện ấy.”

Theo Từ Hải, Quy Châu là phủ Nghi Xương tỉnh Hồ Bắc.

Cũng theo Từ Hải (bộ bách khoa được học giới Trung Hoa tin cậy), châu Kinh cổ xưa, nay là địa giới toàn tỉnh Hồ Nam, Hồ Bắc, cộng thêm đông bộ tỉnh Tứ Xuyên, đông bắc tỉnh Quý Châu, bắc bộ tỉnh Quảng Đông, huyện Liên, huyện Liên Sơn và toàn huyện Quảng Tây (thuộc tỉnh Quảng Tây). Châu Dương nay là các tỉnh Giang Tô, An Huy, Giang Tây, Triết Giang, Phúc Kiến.

Khuất Nguyên người huyện Tỷ Quy ở tỉnh Hồ Bắc, tỉnh Hồ Bắc thuộc châu Kinh, đất gốc của Bách Việt. Như vậy, Khuất Nguyên người Bách Việt.

Những bậc hiền giả tiếp theo đây, trích dịch từ Bách Việt Tiên Hiền Chí, do Âu Đại Nhậm, người huyện Thuận Đức, tự là Trinh Bá biên soạn năm Gia Tĩnh thứ 33.

ÂU DÃ TỬ: người rèn kiếp bậc nhất, tức người đưa nền văn minh kim loại của người Việt thời bấy giờ lên hàng đầu, vượt trên các nước chư hầu nhà Chu.

Âu Dã Tử người nước Việt và Can Tương người nước Ngô học chung một thầy, có tài luyện kiếm quý. Vua Doãn Thường của nước Việt khiến họ rèn 4 thanh kiếm quí bằng tinh anh của ngũ kim, hấp thụ tinh khí của thái dương. Tuốt kiếm có thần, đeo kiếm có  uy, chém đứt trở vật, đâm chết đối phương.
Vua nước Sở mời Phong Hồ Tử đến hỏi:
- Ta nghe nước Ngô có Can Tương, nước Việt có Âu Dã Tử. Hai người ấy rèn kiếm bậc nhất trên đời, quả nhân nguyện lòng bái kính. Nay nhờ vua Ngô nói dùm, xin làm bảo kiếm, được chăng?
Phong Hồ Tử đáp:
- Muôn tâu, được lắm. Thần đã từng thấy Âu Dã Tử cùng với Can Tương, hớn hở lên ngọn núi cao, lợp túp lều tranh, đào sắt rèn ba bảo kiếm: một là Long Uyên, hai là Thái A, ba là Công Bố vậy.
Nghe Phong Hồ Tử minh bạch tấu trình, vua Sở cả mừng mà hỏi tiếp rằng:
- Ba thanh kiếm ấy, khí tượng thế nào? Quả nhân xin được lắng nghe.
Phong Hồ Tử đáp:
- Nhìn vào lưỡi kiếm Long Uyên, cảm như đến bờ vực thẳm, lên đỉnh núi cao. Nhìn vào lưỡi kiếm Thái A, lấp loáng rờn rợn, như sóng gợn nước trôi. Nhìn vào văn kiếm Công Bố, từ mũi đến cán, đẹp như ngọc báu mà không thể đeo, miên man như nước biếc, sóng lớp lăn tăn, triền miên bất tuyệt.
Nước Tấn, nước Trịnh, nghe danh kiếm báu, muốn mà không được, bèn cùng nhau xuất quân, vây Sở ba năm liền. Vua Sở đeo kiếm Thái A đi lên trên thành, tuốt kiếm mà chỉ huy ba quân, cả thắng, đánh phá quân địch tan tành, máu chảy ngàn dặm, thây ngã đầy đồng. Mái đầu vua Tấn, vua Trịnh, tóc đen đổi thành màu bạc trắng phau phau.
Vua Sở hỏi:
- Uy của kiếm chăng? Sức của ta chăng?
Phong Hồ Tử đáp:
- Uy của kiếm vậy. Kiếm nhờ thần khí đại vương mà phát uy vậy. Thời Hiên Viên, Thần Nông, Xích Tử  lấy đá làm binh khí. Thời Hoàng Đế lấy ngọc làm binh khí. Mỗi thời đều có cách xử dụng thích ứng. Thời nay, sắt thép là thần binh vậy. Đại vương là bậc thánh đức vậy.
Vua Sở đáp:
- Chỉ vì người Sở nghe mệnh của ta mà thôi.

(Tham khảo và tu chính, căn cứ vào sách Ngô Việt Xuân Thu, Việt Tuyệt Thư)

BAO HÀM: người Bách Việt làm thầy vua nhà Hán.

Bao Hàm tự là Tử Lương, người đất Khúc A ở Cối Kê. Thiếu thời theo nghiệp sách đèn ở thành Trường An, thờ bác sĩ Tế Quân làm thầy, chăm lo học tập Lỗ Thi và Luận Ngữ.

Năm vua Quang Vũ nhà Đông Hán mới lên ngôi, thái thú Hoàng Đảng gặp Hàm ở nhà viên quan tào sử, cử làm hiếu liêm, được giữ chức quan lang trung.

Khoảng giữa niên hiệu Kiến Vũ, vào cung dạy hoàng thái tử học sách Luận Ngữ, vua phong làm gián nghị đại phu, hàm thị trung hữu trung lang tướng.

Năm Vĩnh Bình thứ năm, Minh đế nhà Đông Hán phong làm đại hồng lô. Mỗi khi Hàm đến yết kiến, vua đều đỡ gậy, mời ngồi lên ghế. Về kinh truyện, có điều gì vua chưa thấu đáo, không dám vời đến mà hỏi, chỉ dám khiến viên tiểu hoàng môn đến tận nhà Hàm xin chỉ dẫn.

Vua coi Hàm là bậc ân sư, thấy thầy sống quá thanh bần, thường ban châu ngọc, vải lụa và thóc gạo. Nhận được lộc vua ban, Hàm đem chia hết cho các học trò nghèo.
Khi Hàm bịnh nặng, vua thân đến thăm. Hàm chết tại chức quan. Con là Phúc được phong làm lang trung, cũng lấy sách Luận Ngữ dạy cho Hòa đế.

(Căn cứ vào Viên Tung, Tạ Thừa, Hậu Hán Thư để tham khảo và tu chính)

THÁI LUÂN: người đầu tiên làm ra giấy để viết.
Thái Luân tự là Kính Trọng, người ở Quế Dương, cuối niên hiệu Vĩnh Bình, làm cấp sự quan dịch, một chức quan nhỏ, chờ chực khi có việc, nhà vua sai khiến. Đến niên hiệu Kiến Sơ làm tiểu hoàng môn, coi việc canh gác cửa cho nhà vua. Hòa đế lên ngôi, được thăng làm trung thường thị, ra vào trong triều, hầu cận bên vua để bảo vệ, giúp đỡ, góp ý luận bàn, mưu tính.

Luân học rộng, hiểu biết cao sâu, tính tình đôn hậu, việc làm thận trọng, thành thật tận tâm. Những khi phạm điều sai lầm, nghiêm chỉnh tự mình sửa đổi, cho đến trở nên chính đáng. Mỗi khi tắm gội, đóng cửa cài then, tạ từ không tiếp khách. Tắm xong, ra ngoài đồng nội phơi nắng hóng gió.

Sau, được thăng làm thượng phương lệnh. Năm Vĩnh Nguyên thứ 9, được giao trọng trách coi việc rèn bí kiếm cùng các loại khí giới khác. Bí kiếm là loại kiếm báu, rất sắc bén, được coi là kiếm thần của nhà Hán. Cách rèn khí giới của Luân, không thứ nào không bền và sắc, làm thành phương pháp cho đời sau noi theo.

Luân lại còn là người đầu tiên làm ra giấy để viết.

Vốn xưa chưa có giấy, viết chữ lên thẻ tre hoặc lụa viền trắng. Lụa đắt tiền, thẻ tre nặng, cả hai đều không tiện dụng. Luân bèn nghĩ ra cách lấy vỏ cây, đay gai, vải nát, lưới cá rách mà chế ra giấy. Như vậy vừa đỡ tốn kém, vừa nhẹ, tiện dùng cho tất cả mọi hạng người giàu cũng như nghèo. Thiên hạ ai cũng cảm phục, gọi Luân là Thái Hầu Chỉ, nghĩa là tước hầu họ Thái làm ra giấy để viết chữ.

Năm Nguyên Sơ thứ nhất, Đặng thái hậu thấy Luân làm túc vệ đã lâu, bèn phong làm Long Đình hầu, được ăn lộc 1 ấp 500 nhà. Sau, làm thái bộc ở cung Trường Lạc. Thái bộc là một chức quan coi việc xe ngựa cho nhà vua. Bấy giờ vua nhận thấy lời văn trong kinh truyện, nhiều câu không chính đáng, bèn tuyển chọn những người giỏi về Nho học, cùng bác sĩ, sử quan, đến đài Đông Quán, họp nhau, đối chiếu mà sửa lại kinh truyện cho đúng với pháp lệnh nhà Hán. Luân làm thái bộc đã 4 năm, được vua chọn làm giám sát điều hành, coi sóc việc hiệu đính kinh truyện ấy.

(Căn cứ vào các sách sau đây để tham khảo và tu chính: Đông Quán Hán Ký, Hậu Hán Thư, Thủy Kinh Chú)

VƯƠNG SUNG: triết gia.

Vương Sung tự là Trọng Nhiệm, người làng Thượng Ngu ở Cối Kê, thờ Ban Bưu làm thầy, học rộng biết sâu, không câu nệ vào chương cú. Nhà nghèo, không có sách. Sung thường đến tiệm sách ở Lạc Dương đọc nhờ, nhìn qua một lần là nhớ trọn bộ. Có chiếu vời ra làm quan, vì bịnh không đến nhận chức. Ở nhà viết sách Luận Hành gồm 85 thiên, hơn 20 vạn chữ, phân chia vật thể thành những loại giống và khác nhau. Người đương thời hiềm nghi sách ấy không phải là chánh phái.

Cuối thời Đông Hán, Thái Ung vào đất Ngô, được sách Luận Hành trọng tướng, mê say đọc, dùng làm tài liệu để biện bác. Sau lại có Vương Lãng, coi đất Cối Kê, nghiềm ngẫm sách ấy mà được coi là bậc kỳ tài xuất chúng.

Năm Sung gần 70 tuổi, ý chí và thể lực hao mòn suy yếu, viết Dưỡng Tính Thư gồm 16 thiên, chủ trương thuyết hạn chế dục vọng, di dưỡng tinh thần. Ông qua đời trong niên hiệu Vĩnh Nguyên.

(Căn cứ vào Viên Tung, Tạ Thừa, Hậu Hán Thư, Bão Phát Tử để tham khảo và tu chính)

TRƯƠNG TRỌNG: người cương trực bất khuất trước uy võ.

Trương Trọng, tự Trọng Đốc, người ở Hợp Phố; học cao, hùng biện; là kẻ sĩ được trọng vọng. Thứ sử chọn làm làm tòng sự tại quận Nhật Nam, giúp việc bàn định kế hoạch cai trị người dân trong quận.

Trọng được cử đi sứ Lạc Dương, Minh đế nhà Đông Hán thấy thân hình sứ giả quá nhỏ bé, lấy làm lạ, hỏi bỡn rằng:

- Tiểu sứ, từ quận nào đến vậy?

Trọng lớn tiếng đáp rằng:

- Thần là Kế sứ Nhật Nam, không phải là tiểu sứ. Bệ hạ muốn được nhân tài, nên đối xử như xương với thịt gắn bó lấy nhau.

Nhà vua ưa cách đối đáp ấy.

Ngày mồng một tết, đại hội các quan. Vua hỏi Trọng:

- Người quận Nhật Nam hướng về phương Bắc nhìn mặt trời, có phải vậy không?

 Trọng đáp rằng:

- Tên các quận, có quận Vân Trung, có quận Kim Thành. Chẳng phải thực sự quận Vân Trung ở trong mây, quận Kim Thành có thành bằng vàng. Ở quận Nhật Nam, mặt trời cũng mọc hướng Đông, phong khí ấm áp, ánh dương chan hòa, quan cũng như dân, sống đời thoải mái, tùy thích hướng mặt, quay lưng về Đông, Tây, Nam, Bắc, không có gì bắt buộc được. Nhật Nam nghĩa là vùng đất ấm áp dưới ánh mặt trời, ở phương Nam vậy.

Vua nghe rất thích, thưởng cho vàng lụa. Từ đấy, mỗi  lần Trọng dâng kế sách hoặc là đối đáp, đều được ban thưởng.

(Căn cứ vào các sách sau để tu chính tham khảo: Phạm Thái Cổ Kim Thiện Ngôn, Thái Bình Ngự Lãm, Thủy Kinh Chú)


DƯỠNG PHẤN


Dưỡng Phấn tự là Thúc Cao, người ở Uất Lâm, tài học uyên bác, tinh thông sách cổ, áo vải xuất thân, được cử làm hiếu liêm.

Hòa đế hỏi rằng:

- Âm dương bất hòa, hoặc có thủy tai, hoặc có hạn hán, là tại làm sao?

Phấn thưa:

- Trời có âm dương. Âm dương có bốn mùa. Bốn mùa có chính lệnh. Chính lệnh xuân hạ, ban cho  ân huệ, bố thí khoan nhân. Chính lệng thu đông, cứng rắn sắt đá, uy nghiêm mạnh mẽ, thưởng phạt sát sinh. Nếu như chính lệnh triều đình, ứng với chính lệnh bốn mùa, thì âm dương hòa. Âm dương hòa thì bốn mùa điều hòa. Bốn mùa điều hòa thì gió mưa đúng mùa, gặt hái ngũ cốc dồi dào kho lẫm. Nay thì  không thế. Quan lại phần đông, cai trị người dân không theo thời lệnh, việc làm ngược với thiên khí. Trên không đoái thương dưới. Dưới không trung với trên. Trăm họ khốn đốn mỏi mệt, quan lại chẳng chút xót xa. Lòng dân oán hận, uất ức ngập trời. Vì thế cho  nên âm dương bất hòa, gió mưa không đúng mùa vậy.

Nói về duyên cớ thiên tai, kìa như thủy tai, là do âm thịnh. Tiểu nhân có quyền, lấy công làm tư, tâu lời xàm bậy, trời đổ mưa xuống, ngập lụt ruộng nương, ngũ cốc mất mùa. Đã vậy, sưu thuế không giảm, trăm họ khánh kiệt, ai ai cũng buồn khổ trong lòng.

Phấn một thời nức tiếng là bậc danh Nho.

(Căn cứ vào các sách sau để tham khảo và tu chính: Tính Toản, Phong Tục Thông, Thị Tộc Bác Thảo, Thông Chí Lược)
                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                 
Dưới đây chúng tôi trích dịch một phần của bài Phàm Lệ sách Bách Việt Tiên Hiền Chí để thay cho kết luận:

BÁCH VIỆT TIÊN HIỀN CHÍ PHÀM LỆ

Theo sách Nhất Lưỡng Hán Dư Địa Chí, Cối Kê bị chia thành hai phần: Đan Dương và Dự Chương. Một phần thuộc cảnh giới Ngô, một phần thuộc cảnh giới Việt.

Vốn xưa Cối Kê chỉ là đất của Việt, miêu duệ vua Hạ Vũ cai trị đất này. Từ sau biến cố lìa tan, đến định cư trên miền duyên hải Giang Nam, kẻ làm vương người làm quân trưởng, dòng dõi Bách Việt sinh sôi đông đảo, sống đời hạnh phúc, nức danh tươi tốt ở đây.

Đất nước của các quân trưởng, xa, đến tận Nam Hải, Quế Lâm. Từ Hán về sau, để tiện việc cất quân đánh chiếm, đã vẽ họa đồ phân chia Việt thành châu, thành quận lấy lệ mà thôi. Tên đất cũng là tự ý đặt, sai khác khá nhiều với tên đích thực. Nay muốn viết cho được đúng đắn, phải dùng sử sách của người bản xứ. Đơn cử thí dụ, chẳng hạn như đất Lư Phượng, Hoài Dương, nhà Hán gọi bừa là quận Đông Hải, quận Hoài Lâm. Tuy sách Hán Chí có vẽ bản đồ, phân định biên cương của Ngô Thục; cũng vẫn chỉ là: vẽ cho có vẽ, không đúng sự thực.

Kìa xem một xứ Cối Kê, đất mặn đồng chua, mênh mông rộng lớn, Tần gọi là quận; Hán lại cắt chia, một phần gọi là Ngô quận. Rồi đặt chức quan thái bá, chăn dắt giáo hóa dân ở quận này! Hành vi ấy giả nhân giả nghĩa! Vốn từ trước khi Hán thuộc, tinh hoa đạo học phương Nam đã dung chứa nền Khổng học. Xét trong sử sách, còn giữ đến nay, khi Hán đến đất Cối Kê, Nam Hải, nhân sĩ ở đây đã nhiều, theo về với Hán có các vị: Thiệu Bình, Từ Cầu ở Quảng Lăng; Hàn Tín, Mai Thừa ở Hoài Âm; Anh Bố, Văn Ông ở Thư Lục; Tiêu Hà, Tào Tham ở Bái Thượng...”
Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
11 Tháng Sáu 2014(Xem: 15489)
... Đem đại nghĩa để thắng hung tàn, Lấy chí nhân mà thay cường bạo... Có lẽ trời muốn trao cho gánh nặng, Bắt phải qua bách chiết thiên ma. Cho nên ta cố gắng gan bền, chấp hết cả nhất sinh thập tử. Múa đầu gậy ngọn cờ phất phớ, ngóng vân nghê bốn cõi đan hồ
14 Tháng Tư 2014(Xem: 16001)
Câu chuyện này không có ảnh hưởng gì đến niềm tin gốc nguồn của tuyệt đại đa số quốc dân, trải qua từng thế hệ nối tiếp. Nhưng lại làm lung lay rung chuyển cội nguồn trong lòng một số sử quan như sử thần Ngô Thời Sĩ thời Lê Trung Hưng, như mười bốn vị sử quan trong Quốc Sử Quán triều vua Tự Đức.